Tiếng nói của những người trong cuộc từ phía Mỹ
Tháng chạp 30 năm trước đây, Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược đường không lớn chưa từng có ở Đông Nam Á đánh vào Hà Nội, Hải Phòng với 193 máy bay chiến lược B.52, 1077 máy bay chiến thuật chiếm hơn 48% số máy bay B.52 và 31% số máy bay chiến thuật của toàn nước Mỹ cùng nền khoa học điện tử của Hoa kỳ, lại kết hợp đòn lừa bịp ngoại giao “Hoà bình đang nằm trong tầm tay” để bất ngờ tiến công, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc hoàn toàn tiên chắc sẽ đè bẹp ý chí của Việt Nam, buộc Hà Nội phải quì gối chấp nhận mọi điều kiện trên bàn thương lượng do Mỹ đặt ra tại Hội nghị Paris. Nhưng thực tế diễn ra hoàn toàn ngược lại với ý đồ đó của Mỹ, khi Việt Nam đã lần nữa trong thế đứng hiên ngang đập tan cuộc tập kích chiến lược dã man đó bằng trận “Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972 ấy, ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B.52 và 16/34 chiếc B.52 đã bị bắn rơi tại chỗ. Cùng lúc đó là 44 phi công Mỹ, trong đó có 34 phi công lái B.52 bị bắt sống khi chúng đã cùng đồng bọn trút xuống Hà Nội, Hải Phòng … 21.000 tấn bom đạn.
Trong cuộc “đối đầu lịch sử” mà “trái banh” thảm hại, Nhà Trắng không ngờ lại lọt vào phá tung lưới khung thành của mình này, tiếng nói của những người trong cuộc từ phía Mỹ đã là tiếng nói thú vị, có giá trị về mặt lịch sử.
Trước hết, chúng ta hãy nghe các phi công lái B.52 bị bắt sống nói về những cảm nghĩ của họ:
“… Mọi sự tính toán của chúng tôi đã bị đảo lộn hết. Cấp chỉ huy và các kỹ sư điện tử của chúng tôi đã khẳng định như đang nắm trái ngọt trong tay: “Phương án bay và tất cả các máy điện tử đủ loại này rất tuyệt vời. Không một loại tên lửa và máy bay MIG của miền Bắc Việt Nam có thể bám, bắt được B.52 của ta khi các nhiễu điện tử đã phủ kín nó. Tin thế và khi gần đến vùng trời miền Bắc Việt Nam , tôi đã mở tất cả các máy điện tử và làm việc rất khẩn trương, đúng quy trình. Vậy mà đối phương bị “bịt mù mắt” như tôi đã tin, đã nghĩ và kết quả các ông đã thấy là tôi đang phải có mặt ở đây…”.
Thiếu tá hoa tiêu Phécnanđơ Alécxanđơ, người Mỹ gốc Mêhicô đã bộc lộ rõ cá tính qua lời phát biểu như thên với các nhà báo trong cuộc họp báo chiều ngày 19 - 12 - 1972 ở Hà Nội, tức là sau đúng 24 giờ khi Phécnanđơ cất cánh ở sân bay trên đảo Guam bay vào thủ đô Hà Nội. Khác với Phécnanđơ bị bắt sống ngay đêm đầu tiên 18 - 12, Giêm Giônđơn, thiếu tá hoa tiêu bị bắt sống đêm 27 - 12 tại Hà Bắc “thấm đòn” ngay khi đang ở căn cứ nên đã mô tả tình hình nội bộ khá chi tiết với các cán bộ quân báo của ta:
“… Sân bay Anđơxơn ở đảo Guamlà căn cứ chính của tập đoàn không quân số 8 thuộc Bộ chỉ huy không quân chiến lược. Tập đoàn này do tướng không quân Gêron Giônxon chỉ huy. Từ đêm 18 - 12 - 1972, chúng tôi đã rất ngạc nhiên vì phải đi ném bom vùng châu thổ Bắc Việt Nam . Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ. Ai cũng lo, vì được biết vùng đó được bảo vệ rất mạnh. Chúng tôi được biết ngay từ chuyến đầu tiên bay vào Hà Nội, nhiều máy may B.52 đã bị bắn rơi không trở về căn cứ. Trước hôm tôi tham gia chuyến bay cuối cùng, trên báo Sao và Gạchcủa quân đội Mỹ đã đưa tin một số máy bay B.52 đã bị bắn từ đêm 18 đến 24 – 12. Chuyến bay nào cũng có máy bay không trở về. Thật đáng sợ! Không khí bao trùm căn cứ Anđơxơn là không khí căng thẳng này đã tăng lên từng ngày một…”.
Không chỉ các phi công Mỹ đã bị bắn rơi và bị bắt sống, những phi công đã may mắn không cùng số phận đó cũng đã nhớ mãi cảnh tượng hãi hùng trong 12 ngày đêm này qua hồi ký của mình, như đại uý lái chính Đơren Caoxki đã viết trên tạp chsi Quân lực Mỹtháng 7 - 1977: “… Chiếc máy bay B.52 mang mật danh “Char Coal” (nghĩa là than củi) dẫn đầu tốp 9 chiếc B52G của tôi đã bị trúng đạn tên lửa ngay khi vừa rẽ ngoặt khỏi khu vực được báo hiệu là có “nguy cơ hiểm hoạ”. Thân máy báy bốc cháy như một đàn hoả thiêu làm sáng rực cả một khoảng trời. Thật hãi hùng! Tôi cứ nơm nớp lo sợ mỗi lần bước lên máy bay để bay đến Hà Nội. Cứ nghĩ đến hình ảnh chiếc Char Coal bị thiêu cháy ấy, nghĩ đến hình ảnh các bạn tôi phải ngồi gục đầu trước cuộc họp báo quốc tế ở Hà Nội chiều ngày 19 – 12 – 1972. Tôi thấy mình thật may mắn. Còn nhiều bạn đã lo lắng như tôi và rồi họ đã không tránh khỏi cảnh ngộ đó. Có nhiều phi công còn tan xác cùng máy bay…”.
Với đại uý phi công Uônphơ không chỉ kể lại nỗi lo sợ như thế mà còn tỏ chính kiến của mình về chủ định cuộc tập kích này: “… Lần đầu tiên lực lượng B.52 được sử dụng đúng như vai trò chiến lược mà người ta đã quy định cho nó. Rất tiếc là “cú sút ồ ạt” ấy đã không mang lại kết quả mong muốn, dù tính toán trên các khía cạnh chính trị hay là về mặt kinh doanh.
Người Mỹ đã phạm sai lầm nghiêm trọng là đoán sai phản ứng của Bắc Việt Nam . Chúng ta tưởng rằng Bắc Việt Nam cũng tính toán một cách máy móc và quản lý cách mạng như Mc.Namara quản lý Lầu Năm Góc. Mỹ tưởng răằg ý chí thống nhất đất nước Việt Nam của họ có thể bị rã rời khi sự tàn phá và đau khổ tăng lên tới một mức độ nào đó chứ không nhận thấy sự thống nhất đất nước có một giá trị tuyệt đối đối với Hà Nội.
Trong cuộc thi gan về lòng kiên nhẫn, cuối cùng Oasinhton đã thua. Những gì mà những năm trước Hà Nội chưa đòi được ở Mỹ thì ngược lại ngày 30 - 4 - 1975, Hoa Kỳ đã bưng lấy bằng cả hai tay mà dâng cho cộng sản Việt Nam. Nước Mỹ chưa hoàn toàn rũ bỏ được cơn đau Việt Nam . Người Mỹ cần phải giở lại lịch sử để ngắm nhìn mình trong đó…” (Trích hồi ký của Uônphô in trên báo Nhân dânngày 15 - 12 - 1982).
“… Mỹ là nước chiến thắng lẫy lừng trong thế chiến thứ hai, là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, người đã thắng đậm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1953. Vậy mà đúng 20 năm sau, chúng ta phải chấp nhận thất bại nặng nề trước Bắc Việt, một quốc gia nhỏ bé chỉ có 22 triệu dân và không có nền công nghiệp nào cả… Ở Việt Nam, Hoa Kỳ đã không duy trì được một lực lượng quân đội nào ở lại miền Nam khi Mỹ đã từng thực hiện ở châu Âu và Triều Tiên…”. Chính Jerrold L. Schecter, phóng viên tạp chsi Timecủa Mỹ trong cuốn Từ Toà Bạch ốc đến dinh Độc lậpđã biết như vậy. Còn hãng Reuters, ngày 29 - 12 - 1972 thì đã cảnh báo: “Các nhà quan sát quân sự ở Oashinhton ước tính rằng, Mỹ có thể mất hết máy bay B.52 trong ba tháng nữa, nếu Mỹ tiếp tục ném bom Bắc Việt Nam ở mức độ hiện nay…”.
Tất nhiên, điểm về “tiếng nói những người trong cuộc từ phía Mỹ” này không thể thiếu tiếng nói của ông Risớc Nichxon, Tổng thống Mỹ - chủ mưu của Nhà Trắng trong cuộc tập kích chiến lược bắt “Việt Nam phải trở lại thời kỳ đồ đá” ngày đó. Với ông ta, tuy đã dùng nhiều lời lẽ để thanh minh, đổ lỗi cho thuộc hạ… nhưng trước thảm bại do chính bởi âm ưu thâm độc mà mình đề xuất này, Risớc Nichxon cũng đã phải viết trong cuốn hồi ký mang tựa đề: Không còn những Việt nam nữacủa mình “… Mối lo âu của tôi trong những ngày này không phải về những làn sóng phản đối và phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới. Nỗ lo sợ chính của tôi là ở mức độ tổn thất về máy bay B.52 là khá cao…” và “…. Trong lịch sử nhân loại chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ với Bắc Việt Nam . Hoa Kỳ, là một cường quốc hạt nhân có 180 triệu dân, với GDP hơn 50 tỉ đô la và một quân đội hơn 1 triệu người chống lại một nước nhỏ 16 triệu dân, GDP không đến 2 tỉ đô la, với một quân đội chỉ khoảng 25 vạn người. Đỉnh cao là cuộc leo thang chiến tranh ở Việt Namlà đợt chúng ta đưa B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng vào dịp lễ Noel năm 1972, nhưng chúng ta đã thất bại và phải ký Hiệp định Paris . Thất bại ở Việt Namlà thảm hoạ lớn đối với nước Mỹ. Từ nay không còn ai muốn có những Việt Nam nữa…”.
Còn ông tiến sĩ Henri Kitxinhgio - người có bộ óc thông tuệ và nham hiểm mà Hítle cũng phải gọi bằng thầy làm mưu sĩ đặc biệt cho Tổng thống Risớc Níchxơn hồi đó cũng đã phải thừa nhận hồi ký của mình: “… Không lực Hoa Kỳ đã vấp phải một hệ thống phòng không có hiệu lực nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới với kỹ thuật hiện đại chống lại được kỹ thuật điện của Mỹ…”.
Mỗi người mỗi vẻ thể hiện sự thấm thía sau trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Việt Nam năm 1972, nhưng có lẽ sâu sắc và khái quát cao hơn cả là như lời nhà văn mỹ Nâyxinhan đã viết: “Thắng lợi của Việt Nam là một ví dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người với máy móc”.








