Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 24/05/2006 23:09 (GMT+7)

Thiên niên kỷ thứ hai (Nhìn lại 1000 năm qua)

Năm 1000

Xem lại lịch sử châu Âu thì thấy đến thế kỷ 9 sự tăng trưởng bị ngừng lại do dân số ít quá và phân bố thành các đảo trên một không gian rất rộng.

Năng suất nông nghiệp rất thấp. Từ thế kỷ 6, châu Âu bước vào sơ kỳ Trung cổ. Con người bấy giờ dưới ảnh hưởng của tôn giáo còn rất mê muội, tin vào số phận do Trời ấn định, không thể thay đổi được. Người ta tin vào sự khủng khiếp của năm 1000. Đến năm 1000, hay năm 1033 là năm 1000 tính từ ngày chúa Jêsu mất, sẽ có động đất, sao chổi, bầu trời nứt ra và sẽ là ngày tận cùng của thế giới. Những năm ấy đã đến mà thế giới vẫn yên ổn, thì người ta lại cho rằng Chúa đã ký hợp đồng với loài người thêm 1000 năm nữa. Và thiên niên kỷ thứ hai sẽ là một mùa xuân mới của loài người.

Theo nhà sử học Pháp Fernand Braudel thì trong thế kỷ 10 đã có các dấu hiệu đặc trưng của sự hiện đại hóa đầu tiên biến đổi châu Âu một cách kỳ diệu. Từ thế kỷ 10 châu Âu bước vào hậu kỳ Trung cổ. Các cuộc xâm lăng của các bộ lạc man dân chấm dứt, thành phố được phục hồi và lớn lên. Nhà thờ lớn được xây dựng. Thị trường bắt đầu phát triển.

Thiên niên kỷ trước là thời kỳ của đế quốc Roma, với nền kinh tế thế giới và chế độ nô lệ. Vào thế kỷ 10 chế độ nô lệ suy thoái vì thiếu nguồn cung cấp nô lệ. Các đại điền trang ở Italia bị tan rã và thay vào đấy là chế độ nông nô.

Phơi rơm sau khi gặt ở trang trại nhà điền chủ-Bắc Ninh 1929.
Phơi rơm sau khi gặt ở trang trại nhà điền chủ-Bắc Ninh 1929.
Vào thế kỷ 10 châu Âu có 40 triệu người. Đến thế kỷ 13 dân số tăng lên mặc dù bấy giờ tỷ lệ trẻ con chết còn cao. Đất đai được khai phá ngày càng nhiều nhờ sự tan rã của gia đình lớn và sựxuất hiện của gia đình hạt nhân.

Cộng đồng nông thôn bắt đầu được thành lập. Ruộng đất được khai phá quanh làng, được canh tác chung. Việc phát minh ra cày có bánh xe do 4-8 bò kéo, gọi là canh tác cày nặng do gia súc kéo, giúp cho việc làm đất có chất lượng hơn. Chế độ luân canh ba ruộng, một năm gieo lúa mì đông, một năm gieo mạch xuân, một năm bỏ hóa làm tăng độ màu mỡ của đất. Việc dùng phân chuồng bón ruộng bắt đầu được thực hiện. Việc sử dụng ngựa để cày gây một cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Phát minh lớn nhất thời bấy giờ là cối xay chạy bằng sức nước. Việc tiêu nước các vùng đầm lầy làm tăng diện tích canh tác. Rau và quả được người Hồi giáo nhập vào châu Âu. Con cừu được sử dụng để sản xuất len và lấy thịt.

Với các thay đổi trên người nông dân bắt đầu xuất hiện. Mặc dù họ còn bị chúa đất và tu viện kìm cặp, nhưng so với nô lệ họ được tự do hơn, có ruộng đất và đã tạo ra năng suất cao hơn vì có một phần lợi ích gắn liền với năng suất, là động cơ thúc đẩy sản xuất.

Vào năm 1000 Trung Quốc đã có 56 triệu dân. Nền kinh tế nông dân ở Trung Quốc có lẽ đã xuất hiện từ thế kỷ 7 lúc nhà Đường chia ruộng cho nông dân để có một thu nhập ổn định. Nhưng sau đấy ruộng đất lại được tập trung làm cho kinh tế gia đình bị suy thoái ở Hoa Bắc. Vào cuối thiên niên kỷ I nhà Tống thống nhất đất nước, lập chế độ trung ương tập quyền. Nông nghiệp ở hạ lưu Trường Giang bắt đầu phát triển mạnh nghề trồng lúa nước nhờ các đợt di cư từ phương Bắc xuống và phát triển nông nghiệp gia đình… Vào thế kỷ 11 với việc phổ biến các giống lúa chiêm, ngắn ngày từ Việt Nam (1) đã tạo nên một cuộc cách mạng xanh. Các giống này cho phép có thể trồng hai vụ một năm: một vụ lúa mì và một vụ lúa. Nhà nước phát triển thủy lợi và có những chính sách hỗ trợ nông dân. Ở vùng hạ lưu Trường Giang chủ yếu là trung nông và bần nông lĩnh canh một phần, địa chủ rất ít.

Nhà nước khuyến khích việc phát triển kinh tế gia đình nông dân.

Thời kỳ này thủ công nghiệp, nội thương và ngoại thương phát triển tạo nên thị trường cả nước. Cuối thế kỷ 11 tiền giấy đã được sử dụng rộng rãi. Các tiến bộ về kỹ thuật như nghề in và về tổ chức đã gây nên một cuộc cách mạng kinh tế.

Ở Việt Nam thế kỷ 10 là một mốc quan trọng, là thế kỷ bản lề, khép vĩnh viễn thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc, và mở ra một thời đại độc lập dân tộc lâu dài. Vào thời gian này Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, đầu tiên nắm quyền sở hữu ruộng đất trong cả nước, quốc hữu hóa các trang ấp lớn, nhưng vẫn công nhận sự tồn tại của một số trang ấp nhỏ. Nhà vua phong ấp cho những người có công, cho phép thu tô. Chế độ ruộng công của làng xã cũng được hình thành trong thời kỳ này. Nền kinh tế hộ nông dân bắt đầu phát triển từ lúc này.

Như vậy có một hiện tượng chung trên toàn thế giới là đầu thiên niên kỷ II nền kinh tế hộ nông dân được xuất hiện hoặc được phục hồi.

Nửa đầu thiên niên kỷ

Cũng từ thời kỳ này chế độ phong kiến bắt đầu. Các thành thị phát triển mạnh mẽ nhờ sự phát triển của nông nghiệp, tạo ra được sự dư thừa mà các lãnh chúa phong kiến và tu viện trao đổi với thành thị để lấy các hàng công nghiệp. Thành thị bắt đầu phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Một cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã xảy ra với thuyền buồm có bánh lái, xe ngựa bánh có niềng sắt, do ngựa đóng móng sắt kéo, cối xay nước rồi cối xay gió. Thời bấy giờ Pháp là trung tâm của châu Âu.

Châu Âu bắt đầu bành trướng sang phương Nam và phương Đông bằng các cuộc Thập tự chinh. Đến thế kỷ 13 thì việc khai thác ruộng đất bắt đầu ngừng lại, năng suất cây trồng không tăng lên được nữa. Sang thế kỷ 14 nạn dịch hạch đen, nạn đói và cuộc chiến tranh Trăm năm đã làm dân số giảm xuống còn một nửa. Cũng trong thời kỳ này hai trung tâm kinh tế mới xuất hiện là Hà Lan với công nghiệp dệt dạ và Italia với buôn bán và ngân hàng. Một nền kinh tế-thế giới mới (économie-monde) lại xuất hiện.

Đập lúa ngoài đồng.
Đập lúa ngoài đồng.
Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 13 nông nghiệp Trung Quốc phát triển một cách toàn diện. Ngoài lúa còn phát triển các cây công nghiệp như bông, tơ tằm, dầu thực vật, chè và cây quả. Vào thế kỷ 14 ởchâu thổ Trường Giang nghề trồng bông và tơ tằm bắt đầu phát triển mạnh, làm phát triển nghề kéo sợi và dệt ở các hộ nông dân. Châu thổ này vốn là một vùng thừa lương thực trở thành thiếu phải mua ởcác vùng khác. Thành thị cũng bắt đầu mọc lên. Thủ công nghiệp phát triển mạnh. Chợ nông thôn và thành thị mọc lên khắp nơi. Nghề gốm sứ với kỹ thuật cao cấp trở thành nổi tiếng khắp thế giới. Nghềlàm giấy từ sợi gai, dâu và tre nứa phát triển ở vùng núi. Các thành thị được xây dựng giúp cho việc phát triển kinh tế thị trường. Việc buôn bán đồ sứ và chè với nước ngoài được đẩy mạnh nhờ kỹthuật hàng hải Trung Quốc. Bánh lái thuyền ra đời sớm hơn châu Âu 4 thế kỷ. La bàn được phát minh và sử dụng trước châu Âu 3 thế kỷ. Nghề in được phát minh từ thế kỷ 2 trước công nguyên đã phát triểnmạnh vào thời kỳ này.

Nửa sau thiên niên kỷ

Vào thế kỷ 15 châu Âu kết thúc thời kỳ Trung cổ và bước sang thời kỳ Phục hưng. Kinh tế thị trường phát triển, hàng hải và ngoại thương phát triển. Các nhà hàng hải phát minh ra châu Mỹ và mở đường biển vòng quanh thế giới. Sang thế kỷ 16 đạo Thiên chúa thắng đạo Hồi ở Địa Trung Hải. Các trung tâm của nền kinh tế-thế giới lần lượt là: Venise (1380-1500), Anvers(1500-1569), Amsterdam (1569-1780), London (1783-1918), New York (1918-1973).

Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 dân số châu Âu tăng dần mặc dù vẫn có các cuộc chiến tranh và những nạn đói kìm hãm sự tăng dân số, nhưng không có những tai họa lớn như nửa đầu thiên niên kỷ. Lương thực được Đông Âu cấp rất dồi dào, vàng bạc từ châu Mỹ đã làm giàu châu Âu. Thời kỳ này buôn bán quốc tế được phát triển mạnh và các nước châu Âu làm giàu rất nhanh. Sang thế kỷ 17 bắt đầu xảy ra cuộc cách mạng nông nghiệp thay chế độ bỏ hóa bằng chế độ luân canh làm tăng năng suất nông nghiệp.

Thế kỷ 18 là thế kỷ ánh sáng và Cách mạng tư sản dân quyền Pháp cùng với cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và thời kỳ hiện đại.

Trung Quốc vào đầu thiên niên kỷ đã đi trước châu Âu về khoa học công nghệ. Các phát minh thúc đẩy sự phát triển của loài người như thuốc nổ, la bàn, giấy và nghề in đều xuất hiện trước ở Trung Quốc. Nhưng trong nửa sau của thiên niên kỷ châu Âu đã vượt và bỏ xa Trung Quốc.

Tại sao châu Á phát triển chậm hơn châu Âu?

Sự trì trệ của nông nghiệp Trung Quốc là do từ thế kỷ 12 sự tăng dân số đã đạt tới mức mà các nhân tố như chiến tranh, nạn đói và di dân không làm giảm dân số nữa. Diện tích đất đai tuy có tăng lên nhưng không kịp với tăng dân số nên bình quân ruộng đất vẫn giảm. Lúc lao động trở thành dồi dào và nguồn lợi, nhất là đất trở thành hiếm, nông dân và thợ thủ công lựa chọn kỹ thuật cần nhiều lao động hơn là kỹ thuật tiết kiệm lao động. Quá trình này được gọi là Đình hóa(involution) (2) là sự tăng trưởng không dẫn đến những sự thay đổi về chất. Tình trạng này là tình trạng có tăng trưởng nhưng không có phát triển. Thế kỷ 12 được coi như điểm ngoặt, lúc mà nông nghiệp Trung Quốc đi vào thâm canh bằng đầu tư thêm lao động chứ không cải tiến kỹ thuật để nâng cao hiệu suất. Mặt khác nông nghiệp Trung Quốc đã có một thặng dư đáng kể mà các giai cấp tầng lớp trên đã bòn rút từ nông dân và thợ thủ công qua địa tô, lợi tức, thuế và tham nhũng, chiếm khoảng 25-30% của sản lượng nông thôn. Thặng dư này đáng lẽ phải được đầu tư để cải tiến nông nghiệp, lại được tiêu pha vào các mục đích không kinh tế vì phần nhiều các tầng lớp trên này lại không tham gia trực tiếp vào hoạt động nông nghiệp. Việc giải thích trên cũng có thể đúng với nước ta.

Tại sao trong thế kỷ 17,18 nước ta, Trung Quốc và Nhật Bản không khác nhau mấy, đều là các nước nông nghiệp cả. Thế mà sang cuối thế kỷ 19 Nhật Bản lại công nghiệp hóa được và phát triển được chủ nghĩa tư bản, Trung Quốc thì đã bắt đầu công nghiệp hóa được và phát triển được chế độ nửa tư bản, còn Việt Nam thì không.

Ở châu Âu nhà xã hội học Max Weber (1902) gắn liền đạo đức Tin lành đánh giá cao lao động, động viên tinh thần tiết kiệm phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa tư bản. Ở châu Á nhiều người giải thích tính năng động của các nước Đông Á có quan hệ với đạo Khổng, mà người ta gọi là Khổng giáo mới. Tuy vậy văn hóa Nho giáo không cho phép giải thích được sự khác nhau nói trên.

Nhật Bản là nước châu Á độc nhất không có chế độ chuyên chế phương Đông mà có một chế độ phong kiến phân quyền như ở châu Âu. Từ thế kỷ 12 đã thực hiện chế độ Bakufu (Mạc phủ) đứng đầu là là Sohogun (tướng quân) nắm quyền, còn Thiên hoàng chỉ mang tính tượng trưng. Bên dưới có các daimiyo (đại danh) cát cứ các vùng nhỏ và thu tô của nông nô. Mỗi daimiyo có một nhóm samourai phục vụ, lĩnh lương bằng thóc. Đạo Khổng ở Nhật Bản qua võ sĩ đạo nhấn mạnh tính điều tiết và đạm bạc coi đấy là đạo đức của giai cấp quý tộc. Các đặc tính này có lợi cho việc phát triển chế độ tư bản. Ở Nhật Bản có một giai cấp thương nhân (chonin) được các daimyo và samourai nâng đỡ vì họ cần bán thóc và mua các hàng hóa cần thiết. Do đấy thương nghiệp đã phát triển từ thế kỷ 17. Sau này lúc chế độ phong kiến suy thoái các samourai dần dần biến thành thương nhân. Chính giai cấp thương nhân này là lực lượng thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa và phát triển chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ 19. Trong cuộc duy tân của Minh Trị xóa bỏ chế độ lãnh địa, nhà nước cho các lãnh chúa phong kiến và các samourai tầng lớp cao một số tiền bằng 4-6 năm bổng lộc cũ để họ đầu tư phát triển công nghiệp.

Trung Quốc là một nước có chế độ chuyên chế phương Đông, có chính quyền quân chủ tập trung với một bộ máy quan liêu mạnh. Để tuyển chọn người cho bộ máy này đã có một chế độ thi cử chặt chẽ lấy đạo Nho làm cơ sở. Văn hóa đạo Khổng coi trọng kẻ sĩ , và coi khinh nghề buôn. Vì vậy, mặc dù nền kinh tế hàng hóa đã phát triển từ thế kỷ 12 với nghề dệt tơ lụa và vải bông, trước cả châu Âu nhiều, mặc dù đã có các mầm mống của chủ nghĩa tư bản từ thế kỷ 15, mà quá trình này không dẫn đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nguyên nhân chính là do không có việc tăng năng suất lao động trong nông nghiệp và công nghiệp và không tạo ra được thặng dư cho việc công nghiệp hóa. Chế độ Mãn Thanh cũng là một nhân tố cản trở việc công nghiệp hóa. Đầu thế kỷ 19 vẫn chưa có giai cấp thương gia và công nghiệp gia ở thành thị như ở châu Âu. Vì vậy, Trung Quốc chỉ có thể tiến đến chế độ nửa tư bản.

Nước ta là một nước chịu ảnh hưởng của Trung Quốc và Nho giáo. Từ thế kỷ 17, thời Lê mạt buôn bán và công nghiệp đã bắt đầu phát triển. Trong công cuộc Nam tiến các chúa Nguyễn đã khai phá miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ, xây dựng một nhà nước dựa vào Phật giáo với một nền kinh tế hàng hóa. Thế mà đến thế kỷ 19 vẫn chưa có được một tầng lớp doanh nhân có khả năng tiến hành công nghiệp hóa mặc dù có các trí thức đề nghị triều đình cải cách như ở Nhật Bản. Nguyên nhân là do đất nước đã trải qua nhiều cuộc nội chiến lãng phí bao nhiêu nguồn lợi, và các nhà nước quân chủ bảo thủ cản trở việc phát triển.

Các nước châu Á có đi chậm hơn, nhưng Nhật Bản đã đuổi kịp thậm chí còn vượt nhiều nước đi trước, còn các nước khác thì cũng đã lần lượt bước vào sự tăng trưởng thần kỳ của cuối thiên niên kỷ.

Theo các nhà sử học Pháp thì thiên niên kỷ II là thiên niên kỷ của nền kinh tế nông dân tồn tại mãi cho đến giữa thế kỷ 20. Các cải cách trong nông nghiệp đã làm thay đổi bản chất của nông trại và nghề nông, biến người nông dân (paysan) thành người làm ruộng (cultivateur) hay sản xuất nông nghiệp (agriculteur). Tuy vậy hiện nay nhiều người lại muốn quay trở về với người nông dân. Đồng thời cũng đã phát triển nền kinh tế thị trường, tiến tới nền kinh tế-thế giới từ khoảng giữa thiên niên kỷ. Chính nền kinh tế này đã thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp rồi cuộc cách mạng khoa học tạo nên thế giới hiện đại ngày nay.

Trong những thế kỷ trước, Việt Nam đã áp dụng nhiều mô hình kinh tế nông nghiệp, nhất là trong thế kỷ cuối cùng. Nhưng các mô hình đó đều tỏ ra không phù hợp. Hiện nay chúng ta đang quay trở lại với nền kinh tế nông dân với sản xuất theo hộ gia đình. Đấy cũng là một trong những nội dung của cuộc đổi mới hiện nay. Đó cũng là hành trang để chúng ta bước vào thế kỷ 21.

__________________

1. Nhiều tài liệu về lịch sử nông nghiệp Trung Quốc có nói đến việc vua Tống Chân Tông năm 1012 lấy 3 vạn thăng lúa chiêm ở Phúc Kiến để phổ biến cho vùng hạ lưu Trường Giang và sông Hoài. Thực ra thì lúa chiêm này không phải lấy trực tiếp từ Chiêm Thành mà được nhập dần dần từ Việt Nam lên Hoa Nam trong một thời gian dài vì ngắn ngày, chịu rét và chịu hạn (Needham, Bray, 1984). Vậy, các giống lúa này chính là lúa chiêm của Việt Nam chứ không phải là giống lúa của Chiêm Thành (Đào Thế Tuấn, 1983).

2. Khái niệm INVOLUTION đầu tiên do Geertz (1963) đề nghị lục nghiên cứu nông thôn Indonexia để chỉ năng suất lúa có thể tăng lên không ngừng lúc đầu tư thêm lao động. Chúng tôi tạm dịch là Đình hóa (đình là dừng lại) vì EVOLUTUION dịch là tiến hóa.

Nguồn: Xưa và Nay, số 83, tháng 1-2001.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy VUSTA trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng)
Ngày 27/3, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026 và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng). Sự kiện không chỉ là dịp ghi nhận những cống hiến của các đảng viên lão thành mà còn là diễn đàn quan trọng đánh giá kết quả công tác Quý I, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026 của Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam.
VUSTA kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập, đánh dấu một hành trình kiến tạo và cống hiến bền bỉ
Chiều ngày 26/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm và chuỗi các hoạt động đặc biệt chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập (26/3/1983 - 26/3/2026). Sự kiện là dấu mốc ý nghĩa ghi dấu hành trình hơn bốn thập kỷ kiến tạo và cống hiến của VUSTA – ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam.
Bí thư Đảng uỷ VUSTA Châu Văn Minh thăm và làm việc với Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC)
Chiều ngày 25/3, GS.VS. Châu Văn Minh – Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) dẫn đầu đoàn công tác đã đến thăm và làm việc với ban lãnh đạo cùng đội ngũ cán bộ, người lao động của Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC).