Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 15/04/2011 21:34 (GMT+7)

Tăng cường năng lực cho hệ thống quản lý nhà nước về biển - Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới

Từ kinh nghiệm trên thế giới

Mỹ là quốc gia tiên phong trong việc áp dụng quản lý tổng hợp biển và vùng ven biển. Luật Quản lý vùng ven biển (CZMA) được Mỹ thông qua năm 1972 nhằm tăng cường sự tham gia và phối hợp của các bên liên quan trong việc đưa ra các chương trình liên quan đến vùng ven biển và cân bằng giữa các nhóm cạnh tranh về lợi ích ở vùng ven biển. CZMA cho phép các Tiểu bang xây dựng kế hoạch quản lý vùng ven biển, trong số xác định quyền sử dụng tài nguyên đất và nước trong phạm vi vùng ven biển của bang, do vậy mỗi bang có thể điều chỉnh chương trình quản lý vùng ven biển phù hợp với bối cảnh và nhu cầu của bang mình. Để thực hiện CZMA, Chính phủ Liên bang cung cấp hỗ trợ tài chính cho các bang xây dựng và duy trì các chương trình quản lý vùng ven biển. Vụ quản lý xây tài nguyên vùng ven biển và đại dương thuộc Tổng cục Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ chịu trách nhiệm đánh giá các chương trình quản lý vùng ven biển của các bang. Chính phủ khuyến khích công chúng tham gia và góp ý vào quá trình đánh giá này nhằm đảm bảo các bang thực hiện các chương trình một cách hiệu quả nhất. vụ quản lý tài nguyên vùng ven biển và đại dương cũng đã xây dựng và thực hiện một số công cụ đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý vùng ven biển như quy hoạch chiến lược, hệ thống đánh giá việc thực hiện CZMA, sáng tạo về hiệu quả quản lý các khu bảo tồn biển.

Là nước có nhiều kinh nghiệm, Mỹ có nhiều khóa đào tạo về quản lý biển nhất so với các nước khác trên thế giới. Các khóa học như quản lý vùng ven biển, chính sách biển, quản lý tài nguyên biển có thể tìm thấy ở nhiều trường tại Mỹ như đại học Washington, Đại học Rhode Island, Viện công nghệ Florida…

Đức là một trong nước đầu tiên xây dựng và thông qua chiến lược quốc gia quản lý tổng hợp vùng biển vào năm 2006 dựa trên khuyến nghị của EU 2002/413/EG. Chiến lược phân tích thực trạng kinh tế, xã hội, sinh thái, pháp luật về biển và vùng ven biển làm cơ sở cụ thể hóa các bước hỗ trợ quy trình quản lý tổng hợp cũng như việc thực hiện các nguyên tắc quản lý tổng hợp cơ bản. Tuy đa số các nguyên tắc cơ bản về quản lý tổng hợp đã được thực hiện thông qua các công cụ pháp lý hiện có, song chiến lược đã đẩy mạnh việc sửa đổi các công cụ pháp lý hướng tới hoàn thiện quy trình tổng hợp thông qua việc thành lập một văn phòng quản lý tổng hợp vùng ven biển. Ngoài ra, Chính phủ vùng liên bang Đức cũng đã sửa đổi một số công cụ pháp lý trên theo luật chung của EU, lồng ghép đánh giá môi trường chiến lược, khung quản lý tài nguyên nước vào luật và quy chế quốc gia, chiến lược quốc gia. Hai mô hình được đánh giá khá thành công là mô hình quản lý Cửa sông Odervà mô hình quản lý Vịnh Lubeck. Đây là hai mô hình thể hiện tầm quan trọng của việc thu hút sự tham gia của các bên liên quan trong việc giải quyết các vấn đề vùng ven biển. Mô hình Oderđược đánh giá là thành công bởi Chương trình Nghị sự vùng ven biển với các hoạt động nhằm tăng cường điều phối và trao đổi thông tin trong nội bộ vùng. Trong khi mô hình quản lý tổng hợp vịnh Lubeck lồng ghép các biện pháp bảo vệ vùng ven biển với ngân sách thực hiện quy định rõ ràng trong luật và được điều hành ở cấp cao hơn.

Tuy đã có Chiến lược quốc gia và nhiều thể chế, chính sách về quản lý tổng hợp vùng ven biển cũng như nhiều quốc gia khác, Đức cũng còn nhiều khó khăn trong việc phát triển bền vững vùng ven biển do cơ cấu hành chính vẫn còn chồng chéo và chưa đồng bộ, vẫn còn hạn chế trong việc huy động sự tham gia tích cực, chủ động của các bên liên quan. Hiện nay quản lý tổng hợp vùng ven biển là nội dung đã được đưa vào chương trình đào tạo tại nhiều trường đại học ở Đức. Ngoài các khóa đào tạo tại đại học và sau đại học về quản lý nhà nước và vùng ven biển, các module quản lý tổng hợp vùng ven biển được lồng ghép vào các chương trình đào tạo các khóa học về quản lý môi trường, bảo tồn và sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Tại Hà Lan, các nguyên tắc về quản lý tổng hợp biển và vùng ven biển được thực hiện trong hai chính sách đó là Chiến lược không gian quốc gia (năm 2005) và chính sách thứ ba về các vùng ven biển (năm 2000). Theo đó, quản lý tổng hợp vùng ven biển tại Hà Lan dựa trên phương pháp tiếp cận ưu tiên. Vấn đề về an toàn lũ lụt và quản lý xói lở giữ vai trò quyết định và được chính phủ Hà Lan ưu tiên hàng đầu trong khi đó các vấn đề khác như phát triển kinh tế, bảo tồn thiên nhiên, quy hoạch không gian đóng vai trò thứ yếu. Do vậy phương pháp tiếp cận của quản lý tổng hợp vùng ven biển tại Hà Lan là phương pháp tiếp cận theo các điểm xung yếu tại vùng ven biển. Có tất cả 16 điểm xung yếu được xác định tại Hà Lan. Đối với mỗi điểm xung yếu đó, chính quyền các tỉnh xây dựng quy hoạch tổng hợp không chỉ nhằm tăng cường bảo vệ bở biển khỏi lũ mà còn nhằm cải thiện chất lượng môi trường vùng ven biển. Do ưu tiên về an toàn bờ biển, các biện pháp quản lý vùng ven biển khác cũng phải dựa trên cơ sở lồng ghép với các biện pháp an toàn bờ biển.

Tuy không có một chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp vùng ven biển nhưng Hà Lan cho rằng khung thể chế chính sách hiện tại của Hà Lan đã thể hiện được các nguyên tắc quản lý tổng hợp vùng ven bờ theo khuyến nghị của EU. Sự tham gia và tham vấn của các bên liên quan ở mọi cấp bao gồm cả cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ là thành công rất lớn trong quản lý vùng ven biển của Hà Lan.

Về đào tạo nguồn nhân lực, các viện và trường đại học của Hà Lan cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức các khóa đào tạo về quản lý tổng hợp vùng ven biển, quản lý và kỹ thuật biển và bờ biển, xây dựng chính sách và quản lý vùng ven biển và cửa sông, có thể kể đến Viện Van Hall, TU Delft. Quản lý tổng hợp vùng ven biển cũng được đưa vào là một module đào tạo trong các khóa về kỹ thuật thủy lực học.

Bài học cho Việt Nam .

Trong thời gian qua, công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nghiên cứu và quản lý biển đảo đã đạt được nhiều tiến bộ, nhưng công tác đào tạo cán bộ nghiên cứu và quản lý biển đảo của nước ta còn bộc lộ không ít bất cập. Đào tạo nhân lực phục vụ cho biển, đảo hiện nay tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biển thủy, hải sản, khí tượng thủy văn biển, kỹ thuật tàu thủy, kỹ thuật xây dựng trên biển và giao thông vận tải trên biển.

Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ tham gia đào tạo nguồn nhân lực trên biển hiện còn thiếu về số lượng và trong một số trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Do vậy, nguồn nhân lực phục vụ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của Chiến lược vươn ra biển mà Đảng và Nhà nước ta đề ra. Nhiều ngành đào tạo liên quan tới môi trường biển, sinh thái biển, địa chất, địa vật lý và khoáng sản biển, quản lý biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển, luật biển và đặc biệt là ngành Hải dương học chưa có các chương trình riêng.

Năm 2010, "Nghiên cứu hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước tổng hợp thống nhất về biển và hải đảo từ nay đến 2015, tầm nhìn 2020" là một trong hai đề tài nghiên cứu được Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam tiến hành. Đề tài này thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo giai đoạn 2010 - 2015. Cũng trong năm nay, Tổng cục sẽ xây dựng dự án chi tiết về đào tạo bồi dưỡng cán bộ thuộc Đề án Tăng cường quản lý cho hệ thống quản lý biển và hải đảo đến 2015, tầm nhìn 2020 - Đề án đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Để có nguồn nhân lực cao trong quản lý tổng hợp biển, hải đảo, vấn đề là đội ngũ này phải được đào tạo một cách bài bản, có khả năng điều tra, nghiên cứu để tìm ra các quy luật tự nhiên, xã hội tại các vùng biển, hải đảo và áp dụng có hiệu quả các kiến thức nắm được vào việc quản lý khai thác bền vững các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, tổ chức phòng tránh và khắc phục hậu quả thiên tai trên biển, hoạch định các chính sách, phân vùng quy hoạch phát triển bền vững các vùng biển, đảo, bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng trên biển.

Năm 2009, Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã tổ chức đoàn kiểm tra khảo sát nắm tình hình tổ chức, biên chế và việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước tổng hợp về biển, đảo tại 7 tỉnh, thành phố ven biển. Đã có Công văn đề nghị UBND, Sở TN&MT 28 tỉnh, thành phố ven biển xem xét, đề xuất phương án kiện toàn tổ chức ở địa phương theo hướng thành lập các Chi cục quản lý biển và hải đảo. Đến nay, đã có 21 tỉnh, thành phố thành lập Phòng quản lý biển, đảo, trong đó có một số thành lập phòng ghép với chức năng quản lý lĩnh vực khác. Nhiều tỉnh thành phố đã có văn bản đề nghị Bộ TN &MT sớm làm việc với Bộ Nội vụ ra văn bản hướng dẫn thành lập Chi cục quản lý biển, hải đảo.

Theo ThS Đặng Xuân Phương - Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, từ nay đến năm 2020, việc hoàn thiện hệ thống quản lý Nhà nước về biển của Việt Nam sẽ qua hai giai đoạn cơ bản sau:

Giai đoạn 2010-2015 là giai đoạn hình thành và bước đầu thực thi cơ chế quản lý tổng hợp về biển trên cơ sở phát huy vai trò của ngành Tài nguyên và Môi trường với tư cách cơ quan hành chính Nhà nước được Chính phủ giao chức năng quản lý Nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển. Giai đoạn này có đặc trưng là quá trình củng cố bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp về biển thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường. Đồng thời, làm rõ vị trí, vai trò và phông công, phân cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong hệ thống quản lý nhà nước về biển. hình thành khung pháp luật và cơ bản xây dựng xong các công cụ quản lý tổng hợp về biển. Thí điểm mô hình quản lý tổng hợp vùng ven biển tại một số tỉnh ven biển ở 3 vùng: Bắc-Trung-Nam; Giai đoạn 2015-2010 là giai đoạn nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi cơ chế quản lý nhà nước tổng hợp về biển trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống pháp luật và các công cụ quy hoạch, kế hoạch quản lý của các ngành cơ bản đã được sửa đổi phù hợp với khung pháp luật quản lý tổng hợp về biển, nhân rộng mô hình quản lý tổng hợp về biển, bảo đảm tính minh bạch, đánh giá được hiệu quả chiến lược phát triển bền vững về biển.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng