Sự dị biệt giữa nam nữ về bệnh và đáp ứng thuốc
Từ nhiễm sắc thể, não bộ, hormon...
Ngay ở dạng phôi thai, nhiễm sắc thể của mỗi cá thể có 22 cặp giống nhau và 1 cặp khác nhau. Cặp khác đó quyết định giới tính. Đó là cặp XY ở nam, XX ở nữ.
Cho đến tuần thứ 6, bộ phận sinh dục nam nữ giống nhau. Sau đó có sự biệt hóa. Vào tuần thứ 8, ở bào thai nam, tế bào Leydig của tinh hoàn tiết ra testosteron, gây nam hóa bào thai, tạo ống dẫn tinh, mào tinh, túi chứa tinh, dương vật, đồng thời làm tinh hoàn di chuyển từ ổ bụng xuống bìu. Vào tuần lễ thứ 10, ở bào thai nữ, buồng trứng phát triển. Hormon chủ yếu của buồng trứng là estrogen. Các tế bào trứng có mặt vào tháng thứ 4, đạt tới con số 7 triệu vào tháng thứ 5 nhưng khi sinh ra còn lại khoảng 1 triệu, khi có kinh chỉ còn khoảng 0,5 triệu hoạt động.
Theo GS. Brizendine (trong cuốn Female Brain): Ngay trong bụng mẹ, não bộ thai nhi nam nữ đã phát triển theo hướng khác nhau. Trong 8 tuần đầu, tất cả phôi thai đều có não bộ giống não bộ giống cái. Ngay sau đó, trên các phôi giống đực, hormon testosteron bắt đầu tác động, tiêu diệt tế bào đảm nhiệm vai trò thông tin, mở rộng trung tâm điều khiển tính “hung hãn” và “ham muốn tình dục”; trong khi đó, trên các phôi giống cái, các tế bào của trung tâm thông tin liên lạc vẫn hoạt động bình thường. Khi chào đời, trong não bộ của các bé gái, số lượng tế bào phục vụ cho công việc thông tin liên lạc, phân tích tình cảm ký ức đã nhiều hơn 11% so với bé trai. Có thể vì thế mà sau 3 tháng đầu, năng lực thiết lập mối quan hệ thị giác về sự nhận biết người thân của bé gái tăng lên 400% trong khi của bé trai thì dẫm chân tại chỗ. Còn khi lớn hơn nữa thì mỗi ngày nữ cần dùng tới 20.000 từ còn nam chỉ dùng tới 7.000 từ trong giao tiếp. Ở người trưởng thành, nồng độ testosteron trong huyết tương nữ chỉ 15-17 trong khi ở nam lại đến 260-1.000 nanogam/dexilit. Điều này làm cho nam có tính “sex” nhiều hơn nữ. Trong khi đó, sự phát triển hormon estrogen ở nữ làm cho sự dậy thì xảy ra sớm hơn. Khi có hành kinh, “sự ham muốn tình dục” ở nữ lại còn lệ thuộc theo chu kỳ này.
Theo TS. Roger Gorski (Trường y khoa UCLA Mỹ): Có một sự khác biệt trong não nam và nữ ở cụm tế bào có cấu trúc gọi là SDN trong vùng não điều hòa thân nhiệt, đói, khát (hypothalamus). SDN ở nam lớn hơn nữ tới 2,5 lần. Trên chuột thí nghiệm, nếu dùng các chất ngăn cản hormon đực với bào thai thì SDN của bào thai đực chỉ nhỏ bằng SDN của bào thai cái; ngược lại, nếu cung cấp cho bào thai cái những hormon giới tính đực thì nó sẽ làm cho SDN của bào thai cái lớn bằng SDN của bào thai đực.
Não bộ nam giới có kích cỡ hơn nữ tới 15%. Nhưng không phải kích thước quyết định sự thông minh. Thể callosum trong cấu tạo não bộ ở nữ rộng hơn, dày hơn ở nam. Bó dây thần kinh nối hai bán cầu phải và trái não như một “dây cáp máy tính sinh học”. Ở nữ, có hai dây nối khác: dây nối trước (anterior commissure) và dây nối sau (massaintermedia) cũng lớn hơn. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, sự nối kết có tính thích hợp này có thể giải thích cho “tính trực giác” của nữ, một kiểu xử lý thông minh có tính toàn não bộ. Lucia Jacbos, nhà tâm lý học và thần kinh học Đại học California cho rằng: “Não bộ nữ cân xứng hơn, đa năng hơn, có sức chịu đựng hơn vì khả năng ngôn ngữ nằm cả hai bên bán cầu não. Não bộ nữ giống con dao nhỏ, đa năng; não bộ nam giống con dao lớn, một lưỡi”.
... đến sự di biệt về bệnh sinh, đáp ứng thuốc
- Về sự xuất hiện, tiến triển bệnh:
Từ nhỏ đến 12 tuổi, nam hay nữ đều có tỷ lệ trầm cảm như nhau. Nhưng từ trên 12 tuổi nhất là từ tuổi 40 trở lên, nữ bị bệnh gấp đôi nam.
Nam hay nữ đều có vú nhưng 99% ung thư vú là ở nữ. Một số ung thư vú ở nữ phát triển lệ thuộc vào thụ thể estrogen.
Tim phụ nữ chỉ to bằng 2 phần 3 tim nam. Nhịp tim nữ nhanh hơn nhịp tim nam. Ở tuổi mãn kinh, nồng độ hormon estrogen tụt nhanh, làm thay đổi một số chỉ số về tim mạch: cholesterol xấu (LDL-Ch) tăng, cholesterol tốt (HDL-Ch) giảm, mạch có xu hướng co thắt, huyết áp tăng, bệnh tim mạch tăng gấp 4 lần so với khi trẻ. Tỷ lệ bệnh tim mạch ở tuổi trưởng thành cho đến tuổi trung niên ở nữ thấp, nhưng sang tuổi mãn kinh thì lại cao hơn nam. Bệnh tim ở nam liên quan rất nhiều đến sự hình thành xơ vữa ở mạch máu nhưng bệnh tim ở nữ lại liên quan rất nhiều đến sự thay đổi hormon estrogen giai đoạn mãn kinh... Nồng độ cholesterol cao là yếu tố quan trọng báo hiệu nguy cơ bệnh tim ở nam giới. Trong khi đó có tới 75% nữ có bệnh tim lại có nồng độ cholesterol không cao thậm chí thấp. Nhồi máu cơ tim thường diễn ra một cách lặng lẽ ở nữ (chỉ cảm thấy đau nhẹ ở ngực) nhưng lại mạnh ở nam (đau dữ dội) vì thế mà nam thường được nhận biết, cấp cứu sớm trong khi nữ thường bị chậm.
Khối lượng, tỷ trọng, độ chắc của xương nữ thấp hơn nam. Vào tuổi mãn kinh, sự tiêu hủy xương xảy ra nhanh. Có 40-50% nữ ở tuổi mãn kinh bị bệnh loãng xương nhưng ở lứa tuổi đó, nam giới có tỷ lệ bệnh này thấp hơn. Kết cục: trong dân số có 70 - 80% người loãng xương là nữ.
Ở nữ, nồng độ testosteron gắn liền với nguy cơ xuất hiện tiểu đường cao, trong khi đó ở nam sự gắn liền với nguy cơ này lại thấp hơn. Ở nữ, hormon sinh dục nữ có tác dụng bảo vệ cho nữ trước nguy cơ bị tiểu đường týp II trong khi ở nam, sự bảo vệ này của hormon sinh dục nam lại thấp hơn.
- Về sự đáp ứng thuốc:
Hormon estrogen giúp nữ duy trì lá chắn niêm dịch bảo vệ niêm mạc bàng quang và niệu đạo trước sự xâm nhập của vi khuẩn, nấm. Từ tuổi 40 trở lên, estrogen giảm đi, lớp niêm mạc bàng quang niệu đạo không được bảo vệ, vi khuẩn, nấm dễ tấn công vào hơn. Sự nhiễm khuẩn này có căn nguyên sâu xa là sự giảm estrogen nên liệu pháp dùng kem estriol đem lại hiệu quả tốt hơn.
Nếu nữ và nam cùng nghiện rượu thì do nữ có mô mỡ nhiều hơn nên sự chuyển hóa rượu ở nữ kém hơn ở nam và rượu gây viêm gan, gây tổn thương não, gây hại tim cho nữ nhiều hơn nam.
Lâu nay ta thường chỉ chú ý việc dùng thuốc cho nữ khi có thai, nuôi con bú và coi đó là sự khác biệt căn bản với nam giới. Hiểu biết sự dị biệt về bệnh sinh, đáp ứng thuốc của hai giới giúp cho việc chẩn đoán, theo dõi bệnh, dùng thuốc cho mỗi giới khác nhau ngay khi ở trạng thái sinh lý bình thường. Trong tương lai, mở rộng sự nghiên cứu về bệnh sinh và dùng thuốc sẽ giúp ta định hướng được việc dùng thuốc thích hợp với mỗi giới và có hiệu quả cao hơn.








