Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 20/08/2012 22:31 (GMT+7)

Rất cần biết mực nước biển dâng thực tế

Một cập nhật cần thiết

Tháng 6/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN-MT) đã công bố “Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam” 1trong đó dự báo nước biển sẽ dâng theo ba kịch bản phát thải như sau:

Đây là lần đầu tiên đất nước có một dự báo về biến đổi khí hậu, và đặc biệt nước biển dâng, sử dụng các dữ liệu và mô hình mà các nước và các tổ chức quốc tế đã đo đạc và tính toán.

Bảng mực nước biển dâng (MNBD) trên đây được áp dụng suốt dọc 3.260 km bờ biển Việt Nam từ Móng Cái đến Mũi Nai.

Từ khi MNBD được công bố chính thức nhiều đề tài khoa học phục vụ công tác quy hoạch ngành và tổng thể, đã lấy đó làm cơ sở để tính toán việc truyền triều và xâm nhập mặn vào bên trong đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong các thập niên tới đây theo các kịch bản MNBD khác nhau.

Tuy nhiên, MNBD được công bố có một nhược điểm không nhỏ nếu được áp dụng ven bờ. Bờ biển Việt Nam rất dài, đi qua nhiều vĩ độ, lực Coriolis khác nhau đáng kể giữa Hòn Dấu và Năm Căn. Có nơi bờ biển mở, có nơi được che chắn một phần. Chế độ triều, dòng triều khá khác nhau suốt dọc 3.260 km bờ biển, Trong vùng cận duyên châu thổ sông Mêkông lực ma sát đáy khó có thể bỏ qua. Trong bài “Mực nước biển dâng nào cho đồng bằng sông Cửu Long” 2, tôi có nhận xét như vậy và đề nghị MNBD cần được cân nhắc, tính toán sát hợp hơn nữa, có đối chiếu với thực tế của biển Việt Nam.

Tháng 3/2012, một kịch bản mới đã được Bộ TN-MT công bố 3. Lần này bờ biển Việt Nam được chia ra 7 khu vực và MNBD được dự báo cho mỗi khu vực ứng với ba kịch bản phát thải B1 (thấp), B2 (trung bình) và A1FI (cao).

Đây là một cập nhật cần thiết, được mong đợi. Một kết luận gây chú ý là tại khu vực Mũi Cà Mau - Hà Tiên, MNBD tăng cao nhất trong cả ba kịch bản.

Kết luận khá đặc biệt này đáng lý ra cần được thuyết trình. Trong ấn phẩm không có thông tin gì khác có liên quan nên các nhà khoa học, những người tác nghiệp ở địa phương và những người quan tâm đến biến đổi khí hậu rất mong được giải đáp.

Chúng tôi xin cung cấp một số tài liệu, trích từ các công bố của IPCC, có liên quan đến mực nước biển dâng suốt dọc đất nước, và một số kết quả tính toán dựa trên các số liệu thủy văn thực đo tại các trạm ở cửa sông ĐBSCL trong 21 năm (1988-2008), khả dĩ làm sáng tỏ vấn đề, cho phép xác nhận, không đồng ý hoặc dè dặt với kết luận trên.

Hình 1 trích ra kết quả đo đạc và tính toán của IPCC về xu hướng của nhiệt độ biển bề mặt và mực nước biển tại Đông Nam Á. Đáng chú ý là xu hướng mực nước biển tăng ở Nam Trung Bộ và giảm trong Vịnh Thái Lan.

Hình 2. trích ra kết quả tính toán của AR4, WG1 (2007) về các xu hướng trên.

Hình 3. thể hiện sự biến đổi của mức nước và biên độ triều tại các trạm thủy văn ở các cửa sông lớn dọc Biển Đông và Vịnh Thái Lan (1988-2008). Sự biến đổi về mức nước rất thấp ở trạm Rạch Giá và xu hướng thay đổi của biện độ triều tại đây là âm.

Mực nước biển dâng tại đâu?

Cụm từ “nước biển dâng” được tài liệu của Bộ TN-MT giải thích: “Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác.”

Trong khi đó, IPCC có đưa ra một số mực nước biển dâng như sau 4:

“Mực nước biển dâng là sự gia tăng của mực nước trung bình của đại dương.

Mực nước biển trung bình là một độ đo của độ cao trung bình của mặt biển đại dương, ví dụ như đại lượng trung bình giữa đỉnh triều cao nhất bình quân và chân triều thấp nhất bình quân nhiều năm.

Mực nước biển dâng “eustatic” 5là sự gia tăng của mực nước biển toàn cầu do có sự thay đổi về thể tích của nước các đại dương.

Mực nước biển dâng tương đối xảy đến khi có một sự gia tăng mực nước của đại dương so với các biến động cục bộ của đất liền.”

IPCC có nhận xét: Các nhà nghiên cứu về mô hình khí hậu quan tâm đến sự thay đổi của mực nước biển dâng “eustatic”, còn các nhà nghiên cứu về tác động (của biến đổi khí hậu) chú trọng đến sự biến động mực nước biển dâng tương đối.

Như vậy, một câu hỏi được đặt ra: MNBD được công bố là MNBD gì, eustatic hay tương đối?

Một câu hỏi khác tiếp ngay theo đó: Khi khuyến nghị các ngành, các tỉnh, thành phố áp dụng MNBD được công bố (trang 35, 36 và 93 của tài liệu), liệu tính hiện thực của các kết quả đến mức độ nào?

Hai câu hỏi trên đây không lý thuyết hay kinh viện mà rất thực tế, có liên quan đến hiệu quả sử dụng hàng chục ngàn (thậm chí hàng trăm ngàn) tỷ đồng vốn từ ngân sách nhà nước trong những năm sắp tới, chi cho các công trình nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng!

Nhiều mô hình tính toán thủy lực và xâm nhập mặn ở ĐBSCL trong các năm 2009 trở lại đây đã lấy biên biển là mực nước tại trạm thủy văn cửa sông cộng chồng lên đó MNBD chính thức được công bố. Điều này chứng minh sự chính đáng của các câu hỏi vừa nêu.

Cần quan tâm mực nước biển dâng thực tế

Liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu lên sản xuất và đời sống của người dân tại ĐBSCL, trên từng vùng cụ thể, mực nước biển dâng phải biết là mực nước biển dâng thực tế (effective sea level rise).

MNBD thực tế của cả châu thổ hoặc của từng vùng là MNBD tương đối trừ đi độ nâng cao bề mặt, từ phù sa hoặc từ nâng nền, cộng với độ sụt lún ở nơi đó 6&7.

Có hai loại sụt lún: sụt lún tự nhiên của mặt đất do quá trình nén dẽ, canh tác và sụt lún do hoạt động khai thác nước ngầm, than bùn và các khoáng sản khác dưới lòng đất, cũng như do xây dựng nhà máy, khu công nghiệp, phát triển đô thị.

Sự sụt lún quan trọng của thủ đô Bangkok trong nhiều năm đã buộc phải xây cống và đê chống ngập cho thành phố. Hệ thống này đã ngăn việc thoát lũ cho phía Bắc Bangkok trong nhiều tháng cuối năm 2011 và đầu năm 2012. Rõ ràng, biết MNBD thực tế là yêu cầu bức thiết đối với sản xuất và đời sống.

Ở ĐBSCL sự sụt lún tự nhiên là tất yếu. Lượng vật liệu trầm tích, có nguy cơ giảm đi do việc xây dựng các đập trên thượng nguồn, sẽ làm cho MNBD thực tế tăng lên. Sự sụt lún do việc khai thác thái quá nước ngầm, do việc xây dựng quá nặng trên nền đất yếu, chắc chắn sẽ làm MNBD thực tế tăng lên.

Mong rằng MNBD thực tế sẽ sớm được Nhà nước, các Bộ ngành chức năng và các địa phương quan tâm đúng mức, mà cụ thể là theo dõi mức độ sụt lún, để việc ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biên dâng đi vào thực chất và có hiệu quả.

---

1. Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội, tháng 6/2009.

2. NGUYỄN NGỌC TRÂN, “Mực nước biển dâng nào tại đồng bằng sông Cửu Long?” 12/02/2011, đăng trên các báo giấy và mạng sau đây: http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=74&NewsId=203697, http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=24&ID=96507&Code=VFCFA96507,http://www.vncold.vn/Web/Content.aspx?distid=2610

3. Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, NXB Tài nguyên-Môi trường và Bản đồ, 2012, www.imh.ac.vn

4. Third Assesment Report IPCC Terms.

5. Có tự điển Anh Việt dịch eustatic là chấn tĩnh. Chúng tôi xin giữ nguyên tiếng Anh vì đã có giải thích đi kèm.

6. Jason P. Ericson et al. Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human dimension implications, Global and Planetary Change 50 (2006) 63–82.

7. Irina Overeem, J. Syvitski, A. Kettner, E. Hutton, and B. Brakenridge, Singking Deltas due to Human Activities, Search and Discovery Article #70094 (2010).

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.