Phòng và trị một số bệnh thường gặp trên cá mùa mưa
Việc phát hiện và chẩn đoán xác định bệnh cho cá không đơn giản, vì việc chữa trị cho cá khó khăn hơn nhiều so với động vật trên cạn. Vì vậy, việc phòng bệnh cho cá là rất quan trọng và cần được đặc biệt quan tâm theo nguyên tắc " Phòng bệnh hơn chữa bệnh".Khi nuôi cá, người nuôi cần lưu ý để loại trừ những điều kiện dễ làm cá nhiễm bệnh: Nước ao kém chất lượng: do quản lý môi trường nuôi không đúng kỹ thuật hoặc nguồn nước cấp bị nhiễm hoá chất độc, vi khuẩn, vi-rút; Thức ăn kém chất lượng: không đủ dinh dưỡng cho cá, tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển và làm ô nhiễm nước ao; Cá giống nhiễm bệnh: cá mua về đã có sẵn mầm bệnh ở các trại giống; Mật độ thả cá quá cao: sẽ gây thiếu oxy cho cá và làm tích tụ nhiều chất thải cuả cá; Cá bị sây xát: do cá đánh nhau, do lồng bè hay dụng cụ cho ăn, đánh bắt có cạnh sắc nhọn làm cá bị trầy xước; Cá bị sốc: là một trong những nguyên nhân làm cá trở nên mẫn cảm với các bệnh ký sinh trùng, vi khuẩn và vi-rút.
* Chẩn đoán và biện pháp phòng trị một số bệnh thường gặp:
1. Bệnh đốm đỏ:
a. Nguyên nhân:Do môi trường nuôi thay đổi, cá bị sây xát do vận chuyển, đánh bắt, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh.
b. Triệu chứng:Có thể xuất hiện riêng lẽ hay đồng thời:-Bụng trương lên và có dịch màu xanh nhạt hay vàng nhạt trong khoang bụng; - Da đỏ, xuất hiện nhiều vùng lở loét; - Thận sưng lên; - Gan màu vàng nhạt hay nâu nhạt; -Tuột vây, mắt bị nổ; - Nhiều vết lở loét, nhiễm trùng bên trong thân.
c. Chẩn đoán: Do vi khuẩn Aeromonas sp.gây nên.
d. Xử lý:Khi cá bị nhiễm bệnh mà vẫn còn khả năng bắt mồi thì dùng thuốc kháng sinh như Erythromycine, Oxytetracyline, Oxolinic acid…trộn vào thức ăn cho cá ăn với liều 50mg/kg cá /ngày (khoảng 2 - 3 g thuốc/kg thức ăn, tùy vào cỡ cá) cho cá ăn liên tiếp trong 5 ngày; hoặc dùng Tetraxycline 20-25g/m 3nước tắm cho cá trong 1 giờ; hoặc dùng nước muối có nồng độ 4% tắm cho cá trong 10 phút có sục khí.
+ Nếu cá bệnh nặng, thay 50% lượng nước mỗi 2 ngày và bón vôi với lượng 4 - 6kg/100m 3nước.
2. Bệnh gan có mủ trên cá tra:
a. Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Edwardsiella ictalurigây ra, còn gọi là bệnh trắng gan; gan, thận mủ.
b. Dấu hiệu bệnh lý: Cá gầy, mắt hơi lồi. Cá bệnh nặng sẽ bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước và tỉ lệ chết cao. Dấu hiệu bên ngoài không rõ ràng, bên trong xuất hiện nhiều đốm trắng đục kích cỡ 1 – 3mm trên gan, thận và tỳ tạng.
c. Chẩn đoán bệnh: Việc điều trị bệnh chỉ có hiệu quả khi phát hiện bệnh sớm. Do đó trong quá trình nuôi cần thường xuyên quan sát những biểu hiện cuả cá :
+ Giai đoạn đầu: vài con tách đàn bơi lờ đờ ở đầu bè hoặc dạt về góc bè, dọc bờ ao, đôi lúc cá giảm ăn. Bắt khoảng 5 – 10 con để kiểm tra các đốm trắng ở gan và tỳ tạng.
d. Cách phòng: Chọn cá giống khoẻ mạnh, không nhiễm bệnh; tiệt trùng các dụng cụ như lưới, vợt, sọt…bằng Chlorine 10 – 15g/m 3trong 30phút, rửa nước sạch và phơi khô; cá chết không vứt cá bừa bãi ra sông, trên mặt đất mà phải được chôn vào hố cách ly có rải vôi sống (CaO) để tiệt trùng. Không nên cho cá ăn thức ăn tươi sống, tốt nhất nên sử dụng thức ăn viên công nghiệp.
- Luân phiên mỗi tuần sử dụng CaCO 3(2-4 kg/100m 3nước) và Zeolite, duy trì oxy trong nước lớn hơn 2,5 mg/l.
e. Cách trị:Chỉ nên dùng Norfloxacine với liều lượng 0,1- 0,5g/kg thức ăn, hạn chế sử dụng Enrofloxacine, Ciprofloxacine. Nên bổ sung Vitamine C để tăng cường sức đề kháng cho cá. Thuốc được trộn vào thức ăn có áo dầu hoặc chất kết dính.
*Chú ý: Không nên sử dụng Oxytetracyline, Oxolinic acid và Sulphonamide để trị bệnh mủ gan. Không nên dùng kháng sinh để phòng bệnh và tuỳ tiện kết hợp nhiều loại kháng sinh cùng một lúc (không điều trị bao vây). Và trước khi thu hoạch 4 tuần phải ngừng việc cho cá dùng thuốc kháng sinh.
3. Bệnh ký sinh trùng: Bệnh do nguyên sinh động vật
* Bệnh trùng bánh xe: (Trùng mặt trời)
a. Nguyên nhân:Do trùng bánh xe Trichodinaký sinh ở da và mang cá, bệnh thường phát triển vào những ngày trời không nắng, âm u hoặc mưa kéo dài.
b. Triệu chứng:Màu sắc cá nhợt nhạt, thân cá có nhiều nhớt màu trắng đục; đuôi, vây bị xơ mòn, bơi lội không định hướng, thân cọ vào cây cỏ như bị ngứa.
c. Trị bệnh: Có nhiều loại hóa chất có thể dùng để chữa trị bệnh này, ở đây xin giới thiệu hai phương pháp chữa trị an toàn mà hiệu quả lại khá tốt, đó là: - Tắm cá: dùng muối ăn (NaCl) với nồng độ 2-3% tắm cho cá 5-10 phút hoặc dùng CuSO 4(phèn xanh) với nồng độ 3-5 ppm (3-5g/m 3nước) tắm cho cá 5-10 phút; - Phun thuốc trực tiếp xuống ao: dùng CuSO 4với nồng độ 0,5-0,7ppm (0,5-0,7g/m 3nước); - Người nuôi có thể áp dụng 1 trong 2 cách trên sau khoảng 2-3 ngày cá sẽ hết bệnh.
• Bệnh trùng quả dưa:
a. Nguyên nhân và dấu hiệu bệnh lý: Do trùng quả dưa Ichthyophthiosiský sinh trên da và mang, vây cuả cá thành các hạt lấm tấm nhỏ làm cho da và mang có nhiều nhớt, màu sắc nhợt nhạt.
b. Phòng và trị:Áp dụng phương pháp phòng trị tổng hợp: định kỳ vệ sinh ao, bè; không thả cá nuôi quá dày, không nên thả cá có mang trùng bệnh lẫn với cá khoẻ. Dùng hỗn hợp muối ăn và thuốc tím với liều lượng 7kg muối ăn + 4 g thuốc tím/m 3tắm cho cá.
*Bệnh do giun sán:
a. Tác nhân gây bệnh:Do sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrushoặc 18 móc Gyrodactylogyruský sinh vào da và mang cá.
b. Triệu chứng: Cá bệnh thường hô hấp kém do mang và da tiết ra nhiều dịch nhờn; tổ chức da và mang bị sán ký sinh sẽ viêm loét, tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số vi sinh vật khác gây bệnh.
c. Trị bệnh:Tắm cá trong nước muối 3% trong 3-5 phút hoặc dùng nước oxy già (H 2O 2) nồng độ 150 – 200 g/m 3/1 giờ, sục khí mạnh.
4. Bệnh do giáp xác ký sinh:
a. Nguyên nhân và triệu chứng bệnh:
- Thường do trùng mỏ neo Lerneaevà rận cá ký sinh ở cá trên da, mang và mắt, chúng hút máu cá và gây nên các vết thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm xâm nhập và phát triển.
b. Phòng và trị bệnh:
- Khi cải tạo ao, bón vôi sống với liều lượng 0,8 - 1,2 kg/m 2đáy ao để diệt trừ trứng và ấu trùng của chúng trong ao nuôi. Khi lấy nước vào ao, phải dùng lưới cước mịn để lọc nước.
- Dùng thuốc tím 10 – 25g/m 3tắm trong 1 giờ hoặc dùng lá xoan với liều lượng 0,3- 0,5kg/m 3nước.
5. Bệnh nấm thuỷ mi:
a. Nguyên nhân và triệu chứng bệnh:Thường do nấm thủy mi thuộc giống Saprolegnia và Achlyagây ra. Khi cá bị thương và trầy xước do ký sinh trùng sẽ là điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển. Những vết thương loại này có hình dạng giống như bông gòn trắng xuất hiện trên cơ thể cá.
b. Phòng và trị bệnh:
- Phòng bệnh bằng cách tránh gây thương tổn cho cá.
- Trị bệnh bằng cách ngâm cá trong nước muối với lượng 2 - 3kg/m 3nước khoảng 2 - 4 giờ và sau 3 - 5 ngày lặp lại lần nữa, hoặc dùng thuốc tím với nồng độ 10g/m 3trong 15 phút. Có thể dùng trực tiếp Potassium dichromate 5% hoặc dung dịch Iodine 5% sát trùng vết thương.
Nguồn: Bản tin Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh Long số 45, tháng 06/2005








