Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 20/10/2010 19:47 (GMT+7)

Phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông vùng đồng bằng sông Cửu Long

Trong "Báo cáo Brundland"của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) của Liên Hiệp Quốc năm 1987: "Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của bản thân họ". Khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường mà còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội. Với ý nghĩ này, nó được xem là "tiếng chuông" hay nói cách khác là "tấm biển hiệu" cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại.

Các nguyên tắc phát triển bền vững được đề cập ở trên cũng áp dụng đối với chính sách GTVT, bởi vậy yêu cầu đặt ra là ngành GTVT phải tập trung chủ yếu vào sự tiếp cận toàn diện gồm có công tác quy hoạch, các nguồn tài nguyên, môi trường và phát triển địa phương. Ngành GTVT là một trong những ngành then chốt trong hệ thống phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Đường lối đổi mới của Đảng đã xác định GTVT là trung tâm của kết cấu hạ tầng, phải được phát triển mạnh mẽ để tạo điều kiện cho ngành, cho nền kinh tế - xã hội phát triển. Ngày nay, các chính sách GTVT của một quốc gia không còn phát triển đơn lẻ và các nhà chức trách, chính quyền các tỉnh, thành phố phải là những người đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách GTVT để phát triển bền vững. Các chính sách được hợp thành một thể thống nhất về quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch sử dụng đất đai, môi trường dân cư, các dịch vụ. Hệ thống GTVT phải được sự quan tâm của nhiều nhà chức trách, nhà khoa học, những người sử dụng đường, những người có liên quan đến đường và cả những người không sử dụng đường.

Muốn ngành GTVT phát triển bền vững cần phải nhằm vào ba phương diện lớn sau đây: Phương diện nhu cầu, phương diện cung ứng và phương diện thể chế.

Về phương diện nhu cầu: Đó là tất cả các hoạt động trong xã hội từ các hoạt động sản xuất kinh tế, các hoạt động văn hóa thể thao, các hoạt động vui chơi giải trí đến các hoạt động dịch vụ khác.

Về phương diện cung ứng:Đó là hệ thống GTVT. Hệ thống GTVT bao gồm cơ sở hạ tầng mạng lưới đường sá, cầu cống, các loại phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng.

Về phương diện thể chế:Bao gồm các luật, pháp lệnh, nghị định, các cơ chế chính sách, quy định khác có liên quan đến GTVT.

Xét theo hình ảnh thì cung ứng (hệ thống GTVT) là đối trọng của nhu cầu (các hoạt động của xã hội) và thể chế là điểm tựa. Thể chế luôn phải thay đổi để điều tiết sự cân bằng giữa cung và cầu (không kể đến yếu tối môi trường) tức là đã đạt được sự phát triển ổn định bền vững. Tuy nhiên, cung không thể tăng lên vô hạn mà bị giới hạn bởi môi trường, tức là có liên quan đến các vấn đề như tiêu thụ đất đai, năng lượng, các vật chất tự nhiên khác, gây ra ô nhiễm không khí, tiếng ồn, tác động tích cực đến các hệ sinh thái, góp phần làm biến đổi khí hậu. Vì thế, cung không phải lúc nào cũng đáp ứng được cầu. Nhiệm vụ của thế chể là làm cho cân bằng giữa cung và cầu làm được điều này tức là chúng ta có được một sự phát triển cân đối, bền vững và toàn diện.

Việc nghiên cứu để đề ra một chiến lược giao thông (bao gồm cả việc xây dựng kết cấu hạ tầng và tổ chức vận tải, bao gồm cả giao thông thuỷ và giao thông bộ, có kết hợp với thuỷ lợi và các chương trình kinh tế lớn khác của Chính phủ) là một công việc vô cùng to lớn và phức tạp. Nó đang được nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều cơ quan cùng triển khai, và chắc chắn sẽ còn phải điều chỉnh, bổ sung rất nhiều để đi đến hoàn thiện. GTVT là một ngành kinh tế dịch vụ phục vụ toàn xã hội. Vì vậy, dù ở nước nào, đầu tư xây dựng GTVT cũng cần được quy hoạch để phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chung của vùng và quốc gia.

Hiện nay, cả nước đang bước vào chặng đường đầu tiên của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn này, Nhà nước đặc biệt coi trọng việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTVT ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long với chủ trương là vừa củng cố nâng cấp, cải tạo mạng lưới cơ sở hạ tầng giao thông sẵn có, vừa đầu tư xây dựng mới các công trình có quy mô lớn và hiện đại hơn đáp ứng phù hợp yêu cầu của nền kinh tế.

Hiện trạng đường bộ khu vực đồng bằng sông Cửu Long phần lớn các tuyến đường được xây dựng từ lâu, qua nhiều thời kỳ chỉ được sửa chữa cải tạo từng bộ phận, từng đoạn. Hầu hết các tuyến đường bộ chưa được xây dựng đúng cấp kỹ thuật về bề rộng mặt đường, bề rộng nền đường, bán kính cong, độ dốc, kết cấu mặt đường, các công trình vượt sông không đồng bộ do xây dựng ở nhiều thời kỳ khác nhau. Ngoài ra, đồng bằng sông Cửu Long có đặc điểm khí hậu đặc trưng của vùng là lũ lụt. Hàng năm lũ lụt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 12, thời gian lũ trong năm kéo dài từ 3 đến 6 tháng với lượng nước lớn (50.000 đến 70.000 m 3/s), lũ lụt trên một vùng địa hình thấp, phẳng, các cửa thoát lũ thường lại gặp mức nước triều cao nhất trong năm. Do đó hàng năm khoảng 50% diện tích của vùng bị ngập lụt với mức nước khoảng từ 0.5m đến 4m. Với thời gian dài trong năm và với lượng nước ngập cao trên một diện tích lớn như vậy, nhân dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long thực sự phải "sống chung với lũ" từ bao đời nay. Vì vậy, đường sá khu vực đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động phá hoại của khí hậu và thiên nhiên vùng nhiệt đới và ở ven biển; thiên tai lũ lụt hàng năm phá huỷ nghiêm trọng cầu đường bộ; nhiều đoạn đường vùng đồng bằng đi qua vùng trũng, nền đường bị ngâm trong nước, về mùa mưa nhiều đoạn bị ngập nước, mưa lũ xói mòn phá huỷ nền, mặt đường.

Sản phẩm của xây dựng giao thông ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là những công trình sẽ gắn liền với vùng đất này một thời gian lâu dài hoặc vĩnh viễn, vì vậy chính công trình đó cũng sẽ phải " sống chung với lũ". Và vấn đề được đặt ra từ khâu chuẩn bị xây dựng là phải có phương án về lựa chọn vật liệu xây dựng và công nghệ sao cho công trình sẽ "thích nghi với môi trường khí hậu đặc thù của vùng, có nghĩa là công trình đó phải được xây dựng bằng những loại vật liệu xây dựng chịu được nước, không thấm nước và đòi hỏi công nghệ thích hợp để có thể tạo ra những công trình có khả năng chống chọi vơi mưa lũ tốt nhất, bởi vì chúng ta đều đã biết sức nước vào mùa lũ rất mạnh, đã phá huỷ rất nhiều công trình xây dựng, trong đó có công trình giao thông.

Các căn cứ định hướng phát triển GTVT khu vực Đồng bằng sông Cửu Long:

- Xây dựng đề án quy hoạch và kế hoạch phát triển dài hạn GTVT: Quy hoạch phát triển GTVT khu vực Đồng bằng sông Cửu Long phải kết hợp chặt chẽ với chương trình xây dựng các công trình phòng chống lũ và khống chế lũ; Ở khu vực Đồng bằng Cửu Long công tác phòng chống lũ phải đặc biệt coi trọng. Cần khai thác tối đa các mặt tốt của lũ như bồi đắp phù sa, rửa phèn, tăng độ phì nhiêu, khai thác và nuôi trồng thủy sản… và hạn chế tối đa những thiệt hại về lũ.

- Xây dựng các dự án giao thoa: Một dự án đầu tư xây dựng vận tải cần mang tính "liên ngành". Điểm giao thoa của các dự án này là sự phối hợp về tính phục vụ GTVT, nông nghiệp, thủy lợi, du lịch,… Ngoài quy hoạch phát triển GTVT còn phải kết hợp với dự án quy hoạch các điểm tập trung dân cư, các cụm công nghiệp, các trung tâm kinh tế trọng điểm nhằm tiết kiệm chi phí và đạt được lợi ích tối đa về kinh tế - xã hội. Cơ sở hạ tầng giao thông cần phải được quy hoạch và phát triển của dân cư, của sản xuất và của các điểm dân cư trong các vùng. Đồng bộ trong quy hoạch và phát triển bao gồm cả về cơ cấu và cả các mối quan hệ liên kết giữa các ngành, các bộ phận của nguyên tắc và quy chế phát triển hạ tầng cơ sở được soạn thảo phải căn cứ vào tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất, đồng thời phải chú ý tới mối quan hệ hợp tác quốc tế của những cơ quan và đơn vị tham gia. Cơ sở hạ tầng cần phải tính đến khả năng phục vụ trong tương lai. Do đó, cần phải có dự thảo phát triển dài hạn và kế hoạch thực hiện theo từng giai đoạn và có sự cân đối giữa lãnh thổ và vùng.

- Huy động vốn đầu tư: Ngoài vốn ngân sách Nhà nước cần coi trọng các biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các nguồn vốn trong các doanh nghiệp, dân cư trong và ngoài khu vực dưới nhiều hình thức. Quá trình quản lý sử dụng vốn gắn liền với chu trình thực hiện dự án, qua các giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư- thực hiện đầu tư-khai thác sử dụng. Các giai đoạn này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giai đoạn trước được chuẩn bị chu đáo kỹ lưỡng, giai đoạn sau thực hiện sẽ thuận lợi và có chất lượng hơn do đó nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

Các giải pháp kỹ thuật phải quan tâm đến:

+ Cao độ thiết kế trên cơ sở kết hợp với việc ngăn lũ, hoặc phân tán lũ (đảm bảo thống nhất khi có lũ, phục vụ an ninh quốc phòng và phòng chống lũ);

+ Nâng cao chất lượng xây dựng nền đường đất yếu, cần ứng dụng các kết cấu vượt kênh mương bằng cầu bản bê tông cốt thép nhẹ cho những nhịp cầu nhỏ; đặc biệt có thiết kế riêng trong kết cầu hình học nền đường vùng lũ, kết cấu áo đường, trồng cây hoặc cố gia cố bề mặt taluy với các loại cây thích nghi với vùng lũ Đồng bằng sông Cửu Long.

Tổ chức quản lý: Các dự án xây dựng giao thông mang tính chất của loại dự án công ích, có tính xã hội cao, tác động nhiều đối tượng từ lúc lập dự án đến suốt quá trình thực hiện và khai thác sử dụng. Phạm vi ảnh hưởng của dự án rất rộng, liên quan đến nhiều đối tượng, địa phương. Dự án chịu tác động trực tiếp của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đồng thời có tác động trực tiếp đến tự nhiên, môi trường, xã hội, an ninh quốc phòng. Vì vậy cần rà soát các nội dung của các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để tránh chồng chéo, đồng thời các cơ chế, chính sách ban hành cần có sự phù hợp với tính chất đặc thù của chuyên ngành xây dựng giao thông. Như ở trên đã phân tích, đầu tư xây dựng GTVT đòi hỏi vốn đầu tư lớn và thời gian đầu tư kéo dài nên vấn đề chất lượng của công trình sẽ quyết định hiệu quả khai thác công trình và nếu như chúng ta xây dựng được những công trình giao thông có chất lượng tốt thì đó chính là đã góp phần tiết kiệm tiền của cũng như công sức lao động của nhân dân.

Công tác bảo vệ môi trường: Tài nguyên thiên nhiên là tài sản của nhiều thế hệ, nếu các thế hệ trước tăng trưởng tối đa bằng cách hy sinh nguồn tài nguyên thiên nhiên thì thế hệ sau sẽ không thể tiếp tục tăng trưởng bền vững. Con đường phát triển hợp lý nhất là khai thác phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường. Đối với các dự án đầu tư có yêu cầu thiết kế công trình xử lý môi trương thì phải có thiết kế riêng để bảo đảm duy trì công tác bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác, sử dụng. Căn cứ kế hoạch quản lý, giám sát môi trường của báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường đã được phê duyệt đưa nội dung bảo vệ môi trường vào kế hoạch đầu thầu, hồ sơ mồi thầu và chỉ dẫn kỹ thuật của dự án. Thực hiện nghiêm túc các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường của báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.

Nhận định khách quan về tiềm năng, thế mạnh của vùng, phân tích những hạn chế cũng như chia sẻ kinh nghiệm nắm bắt cơ hội để các tỉnh, doanh nghiệp trong và ngoài nước tăng cường liên kết, hợp tác đầu tư, xây dựng cơ chế hợp tác chung có hiệu quả hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện và bền vững cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.