Ổn định nguồn nguyên liệu là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững ngành chế biển thủy sản xuất khẩu Việt Nam
Người đánh bắt và nuôi trồng thủy sản chịu nhiều áp lực về giá cả: xăng dầu, điện nước, giá thức ăn, con giống, thuốc phòng chữa bệnh… thiếu vốn để đầu tư vào thủy lợi, môi trường, chất lượng và vùng nuôi… Diện tích nuôi trồng đã bị thu hẹp, đặc biệt là vùng nuôi tôm, nuôi cá tra, cá ba sa giảm gần 30% diện tích do nước biển dâng, năng nóng kéo dài, lũ lụt và biến động của giá cả, một số diện tích phải chuyển đổi sang làm các ngành nghề khác.
Doanh nghiệp và ngư dân hợp tác, nhưng chưa thật sự ràng buộc với nhau, bằng các hợp đồng mua bán nguyên liệu, cung ứng vật tư, bao tiêu sản phẩm. Mạng lưới đại lý thu gom nguyên liệu chưa được các cấp chính quyền, doanh nghiệp quan tâm đúng mức tình trạng bơm tạp chất vào tôm ngày càng phổ biến, tranh mua tranh bán thường xuyên xảy ra không chỉ trên đất liền mà cả trên biển. Trong khi đó nhiều nhà máy kho lạnh tiếp tục mọc lên, phát triển tự phát không theo một quy hoạch, không gắn với vùng nguyên liệu dẫn đến việc thiếu nguyên liệu tranh mua hạ cấp, nâng giá. Cho đến nay cả nước có trên 568 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, nhưng phần lớn sản xuất mới chỉ đạt 30% đến 60% công suất thiết kế, một vài nhà máy nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài chiếm đến 70% tổng nguồn nguyên liệu đưa vào chế biến hàng năm.
Công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch nghề cá trong cả nước và từng địa phương chưa vận dụng đầy đủ quy luật khách quan của sản xuất thủy sản, chưa lồng ghép với các chương trình phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và các chương trình xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xã hội. Một số mô hình gắn sản xuất với vùng nguyên liệu như công ty cổ phần thủy sản Minh Phú, Bình An, Hoàng Long chưa được nghiên cứu đúc kết kịp thời…
Nguyên nhân của tình trạng trên là do các ngành chức năng, các doanh nghiệp và ngư dân chưa nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc:
1/ Nguyên liệu phục vụ cho chế biến thủy sản là những sinh vật sống, khác với các ngành công nghiệp khác, rất dễ bị hư hỏng sau khi rời khỏi mặt nước, nếu không bảo quản và chế biến kịp thời, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới sự hư hỏng sẽ tăng lên gấp đôi.
2/ Trong dây chuyền sản xuất thủy sản, sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp này là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác tạo thành một chuỗi liên hoàn khép kín từ khâu đánh bắt nuôi trồng, sản xuất con giống, thức ăn, thuốc phòng chữa bệnh, cung ứng vật tư, thu mua bảo quản chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Vì vậy đòi hỏi tính liên kết, liên doanh phải cao, phải đảm bảo hài hòa lợi ích và quyền lợi cho ngư dân, đại lý thu gom, doanh nghiệp và địa phương trên cơ sở các hợp đồng ký kết và tuân thủ các quy định của pháp luật, đồng thời phải có sự chỉ huy điều phối thống nhất.
3/ Trong bối cảnh hiện nay và còn kéo dài trong nhiều năm nữa vai trò đại lý hết sức quan trọng trong việc kinh doanh mua bán thủy hải sản, họ là một khâu trong dây chuyền sản xuất thủy sản, họ là cầu nối giữa doanh nghiệp và ngư dân, họ được xem như là chân rết thu gom ở mọi nơi ngõ ngách mà các nhà máy chưa đủ khả năng với tới được. Vì vậy các ngành các cấp, các địa phương, các doanh nghiệp cần nhìn nhận một cách đầy đủ mặt tích cực và tiêu cực của các đại lý để giúp đỡ họ, nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ nắm vững về khoa học kỹ thuật trong bảo quản và vận chuyển nguyên liệu, được đăng ký kinh doanh và tập hợp họ trong một tổ chức xã hội nghề nghiệp…
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 8 - 9 tỷ USD trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, suy thoái kinh tế toàn cầu chưa hoàn toàn hồi phục đòi hỏi cả hệ thống chính trị tập trung giải quyết các vấn đề trọng điểm sau đây:
1/ Nâng cao nhận thức quán triệt sâu sắc đặc điểm của nghề cá: nguyên liệu là sinh vật sống, sản xuất theo một chuỗi khép kín, sản phẩm của doanh nghiệp này là nguyên liệu của doanh nghiệp khác, chất lượng của thành phẩm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu đòi hỏi tính liên kết liên doanh cao, đảm bảo hài hòa lợi ích bằng các hợp đồng và có sự điều phối chỉ huy thống nhất.
2/ Vận dụng quy luật khách quan và đặc điểm của nghề cá vào việc xây dựng chiến lược, kế hoạch quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu thủy sản ở tầm vĩ mô và vi mô cho thời kỳ 2010 đến 2020, trọng tâm là đồng bằng sông Cửu Long, ven biển miền Trung, đồng bằng sông Hồng. Đồng thời rà soát lại kế hoạch và quy hoạch hiện có để lồng ghép các chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình phòng ngừa và thích ứng với biến đổi khí hậu.
3/ Đầu tư đồng bộ vào các vùng sản xuất nguyên liệu là đặc biệt vào tôm và cá tra cá ba sa, xây dựng các vùng nuôi tập trung với quy mô trên 10 ha gắn với các nhà máy chế biến theo hướng nuôi công nghiệp, nghiêm cấm việc xây dựng thêm các nhà máy chế biến mới không theo quy hoạch và không có phương án giải quyết nguồn nguyên liệu.
4/ Tổ chức lại lực lượng các đại lý trên từng địa bàn có đăng ký kinh doanh phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực. Đối với ngư dân, vận động họ tham gia tổ hợp tác sản xuất hợp tác xã. Cả hai lực lượng này phải gắn bó mật thiết với các doanh nghiệp bằng các hợp đồng kinh tế đảm bảo các bên cùng có lợi. Đối với các doanh nghiệp khai thác, nuôi trồng, chế biến dịch vụ cần liên kết lại thành một chuỗi sản xuất phối hợp chặt chẽ để tăng sản lượng, chất lượng, sản xuất ra các sản phẩm có giá trị gia tăng, có thương hiệu đáp ứng được yêu cầu của thị trường quốc tế.
5/ Rà soát lại các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu hiện có và các vùng nguyên liệu cung ứng cho từng doanh nghiệp để có kế hoạch đầu tư mới đảm bảo có đủ nguyên liệu cho doanh nghiệp hoạt động theo công suất thiết kế, đồng thời nơi nào có điều kiện được thành lập tập đoàn kinh tế thủy sản tư nhân gắn liền với các khâu khai thác, nuôi trồng, sản xuất con giống thức ăn lấy doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu làm trung tâm.
6/ Song song với việc tổ chức lập hệ thống sản xuất gắn với vùng nguyên liệu, các ngành các cấp cần tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp được phép nhập nguyên liệu từ nước ngoài để gia công chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng, nhưng phải đảm bảo các quy định về tiêu chuẩn, chủng loại, vệ sinh môi trường, yêu cầu về chất lượng và giá cả…
7/ Huy động các nguồn vốn từ trung ương, địa phương các doanh nghiệp và sự hỗ trợ của quốc tế để đầu tư vào hệ thống đê biển, thủy lợi, cảng cá, chợ cá, nơi trú bão của tàu thuyền các vùng nuôi tập trung theo hướng công nghiệp.
8/ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong doanh nghiệp phối hợp với hệ thống nghiên cứu của nhà nước để giải quyết các khó khăn trong sản xuất hiện nay đặc biệt là giải quyết giống nuôi thủy hải sản thích ứng với các vùng bị mặn hóa và ngập nước. Nghiên cứu mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo lập nhiều thương hiệu mạnh cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam .








