Những điều cần lưu ý về bệnh ung thư phổi
Phổi là cơ quan hô hấp chính của cơ thể. Nó giúp cơ thể thải bỏ thán khí (khí thải) và cung cấp dưỡng khí cho các tế bào. Ung thư phổi là sự phát triển bất thường của các tế bào, tạo thành các khối u của phổi, có thể lan sang các cơ quan khác gọi là di căn.
Các triệu chứng của ung thư phổi chỉ có giá trị gợi ý. Bệnh tiến triển nhiều khi âm thầm, thường khi phát hiện được thì đã sang giai đoạn muộn. Vì vậy trong chẩn đoán ung thư phổi, vai trò của các xét nghiệm cận lâm sàng như: X quang, chụp cắt lớp, sinh thiết nhu mô phổi, coi lồng ngực, soi trung thất (vùng giữa hai phổi) chọn lọc lấy dịch màng phổi là… rất quan quan trọng. Ước tính, khoảng 5 - 15% các trường hợp ung thư phổi được phát hiện trên hình quang tuyến phổi, trong khi bệnh nhân không có triệu chứng gì. Tuy nhiên 85 - 90% bệnh nhân ung thư phổi có một hoặc nhiều triệu chứng như: ho, ho ra máu, ho càng ngày càng nhiều, khò khè, hụt hơi, đau ngực; phù nề vùng mặt, cổ, ngón tay (hình dùi ống); có các triệu chứng của viêm phổi (sốt, ho có đờm….) khó chịu trong lúc nuốt, khan giọng, sụt cân, mệt mỏi, chán ăn…
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới ung thư phổi: Ô nhiễm môi trường: phóng xạ randon, chất amiăng, chất asbestos (trước đây thường dùng làm chất cách âm, cách nhiệt). Thiếu một số chất chống oxy hoá như sinh tố A, E; do tiểu sử bản thân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh phổi xơ hoá lan toả… Đặc biệt thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra 30% ung thư các loại. Người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi cao gấp 13 lần so với người không hút thuốc. Ở nam giới, 90% người bị ung thư phổi đang hoặc đã từng hút thuốc lá (ở nữ, tỉ lệ này là 80%). Người hút thuốc bị ung thư phổi phụ thuộc vào độ tuổi bắt đầu hút thuốc, thời gian hút thuốc, số điếu thuốc trong một ngày và mức độ hít khói thuốc lá. Việc ngưng sử dụng thuốc lá có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư phổi. Người không hút thuốc lá nhưng hít phải khói thuốc lá (hút thuốc thụ động) cũng có nguy cơ tương tự. Ngoài ra, khoảng 10 - 15% người không hề hút thuốc vẫn mắc ung thư phổi. Cũng có những ca ung thư phổi mà người bệnh chưa tiếp xúc với các nguyên nhân kể trên, dẫn đến gợi ý có vấn đề di truyền đối với bệnh này.
Hiện chưa có phương pháp điều trị ung thư phổi riêng lẻ nào có kết quả mỹ mãn, mà thường phải phối hợp nhiều phương pháp khác nhau tuỳ theo thể bệnh và giai đoạn của bệnh. Một số phương pháp điều trị đã được áp dụng: phẫu thuật cắt bỏ khối u khỏi cơ thể trước khi di căn; áp dụng các liệu pháp: xạ trị, hoá trị, miễn dịch. Tuy nhiên những tác dụng không mong muốn sau hoá trị và xạ trị cũng như sang chấn, suy nhược cơ thể sau phẫu thuật là vấn đề lớn liên quan đến chất lượng sống của người bệnh. Bên cạnh các liệu pháp trên, hiện người ta còn sử dụng tinh chất hồng sâm RH2 (chiết xuất từ cây hồng sâm thiên nhiên) cho bệnh nhân ung thư nói chung và ung thư phế quản - phổi, ung thư phổi, lao phổi nói riêng. Tinh chất hồng sâm RH2 có tác dụng hỗ trợ ức chế khối u phổi phát triển và di căn; tăng cường hệ miễn dịch, giảm tác dụng phụ của hoá trị, xạ trị; đồng thời làm tăng hiệu quả của hai phương pháp trên; nâng đỡ trạng thái tinh thần, thể chất, phục hồi sức khoẻ của bệnh nhân sau phẫu thuật khối u phổi.
Để giảm nguy cơ bị ung thư phổi, tốt nhất là hạn chế và tránh các nguyên nhân nêu trên. Đặc biệt nên bỏ hút thuốc sớm ngày nào tốt ngày đó. Cũng tránh việc hít phải khói thuốc. Nếu trong nhà có người hút thuốc, nên khuyên bỏ hẳn, hoặc tối thiểu là khi hút, cần đi ra khỏi nhà - nhất là nhà có trẻ em. Với các bệnh lý phổi thuộc nhóm nguy cơ kể trên, việc dùng tinh chất hồng sâm RH2 cũng là một giải pháp hiệu quả trong phòng ngừa diễn biến của bệnh chuyển sang giai đoạn ác tính.








