Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 15/06/2011 20:54 (GMT+7)

Những chuyện chưa kể về ca ghép tim tại bệnh viện Trung ương Huế

Để có được thành quả này, các thế hệ thầy thuốc của chúng ta đã phải dày công học hỏi hàng chục năm trời. Nhằm giúp bạn đọc hiểu hơn về thành công của ca ghép tim tại Bệnh viện Trung ương Huế, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, GS, TS Bùi Đức Phú, người đã trực tiếp phẫu thuật những ca mổ tim hở đầu tin tại Bệnh viện Trung ương Huế và phẫu thuật viên chính của ca ghép tim này.

Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các nước phát triển. Tại Việt Nam , cùng với sự phát triển kinh tế và thay đổi lối sống thì bệnh lý tim mạch dần chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu bệnh tật. Ghép tim được xem như là cứu cánh cuối cùng có tính sống còn cho các bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao tuổi thọ cho nhân dân. Ghép tim ở người đòi hỏi tính đồng bộ về kỹ thuật và có tính công nghệ rất cao, cần phải có sự phối hợp điều hành chặt chẽ giữa các bộ phận của các bộ, ban ngành. Quốc hội đã ban hành Luật về chẩn đoán chết não (theo Điều 27 của Luật về chuẩn đoán chết não số 75/2006/QH11) và Bộ Y tế đã ban hành quy định “Tiêu chuẩn lâm sàng, cận lâm sàng và các trường hợp không áp dụng tiêu chuẩn lâm sàng để xác định chết não”.

Bước chuẩn bị gần nửa thập kỷ

Hội đồng khoa học và công nghệ Bệnh viện Trung ương Huế đã đánh giá kỹ lưỡng các yêu cầu về nội dung khoa học, phương pháp nghiên cứu logic, tính khả thi cao của ca ghép tim thể hiện qua năng lực tổ chức triển khai, điều kiện cơ sở trang thiết bị hiện đại để thực hiện, đội ngũ cán bộ có trình độ cao và kinh nghiệm trong lĩnh vực điều trị phẫu thuật hồi sức tim mạch và ghép tạng, có sự hỗ trợ của các trung tâm ghép tim quốc tế và đặc biệt nguồn cho tạng có nhiều thuận lợi.

Về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị, Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Trung ương Huế được xây dựng và đưa vào hoạt động vào năm 2007 gồm 5 khoa chuyên ngành tim mạch. Trang thiết bị chủ yếu của Trung tâm gồm có hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể (4 dàn) để tiến hành phẫu thuật ghép tim; hệ thống ECMO rất cần thiết cho hồi sức sau ghép tim; hệ thống Contrepulson ĐMC hỗ trợ cho bệnh nhân chờ ghép tim; các máy CT Scan 64 lát cắt, DSA (thông tim chụp mạch khảo sát huyết động học), Cardiospect, 4 Siêu âm Doppler có đầu dò thực quản rất cần thiết để đánh giá bệnh nhân chờ ghép tim; EEG để chuẩn đoán chết não, 20 máy thở. Các máy sinh hóa định lượng Cyclosporin, độ tương hợp HLA, đọ chéo. Ngoài ra, bệnh viện còn có các khoa Ngoại thần kinh, Giải phẫu bệnh, Hồi sức cấp cứu trung tâm tham gia vào công tác hồi sức bệnh nhân chết não hiến tạng. Đặc biệt với ghép tim, Trung tâm Tim mạch đã triển khai và hoạt động có hiệu quả tốt kỹ thuật hỗ trợ tuần hoàn bằng oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (ECMO). ECMO là kỹ thuật đặc biệt cần thiết để duy trì sự sống cho các bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối chờ ghép tim; bệnh nhân chết não cho tim và đặc biệt hữu ích hỗ trợ tuần hoàn sau ghép khi có thải ghép cấp hoặc để duy trì huyết động trong thời gian chờ đợi hồi phục chức năng tim ghép… ECMO là một trong những yếu tố quyết định thành công trong ghép tim.

Chúng tôi đã có một đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo đồng bộ chuyên ngành tim mạch trong và ngoài nước. Bệnh viện đã có các mối quan hệ hợp tác với các trung tâm ghép tim quốc tế rất hiệu quả như Trung tâm Ghép tim nổi tiếng ở Hoa Kỳ, Úc, Đài Loan… Ngoài ra, hội đồng ghép tim Bệnh viện Trung ương Huế đã chỉ đạo biên soạn sách “Quy trình kỹ thuật và hệ thống tổ chức trong ghép tim” nhằm tăng cường sự phối kết hợp và huấn luyện đội ngũ cán bộ y tế có trình độ tham gia vào chương trình ghép tim của bệnh viện.

Công tác tổ chức điều hành được vận hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của hội đồng ghép tim Bệnh viện Trung ương Huế khoảng 60 người gồm 8 tổ chuyên môn: tổ chuẩn bị bệnh nhân trước mổ và điều trị sau ghép, tổ chẩn đoán chết não, tổ hồi sức chết não, tổ phẫu thuật lấy và ghép tim, tổ gây mê và hồi sức sau mổ ghép tim, tổ cận lâm sàng (kíp miễn dịch truyền máu, kíp chuẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng tim mạch, kíp thông tim can thiệp, kíp giải phẫu bệnh, kíp hóa sinh, kíp vi sinh), tổ hậu cần, tổ truyền thông. Hàng tháng hội đồng họp một lần, và hàng tuần mỗi tổ họp một lần. Tập trung tập huấn trao đổi trong công tác quản lý bệnh nhân chờ ghép tim, thành lập danh sách bệnh nhân chờ ghép tim; quản lý điều phối nguồn tạng nói chung và nguồn tạng có thể có từ đối tượng chết não nói riêng; thực hành thao tác lấy tim và ghép tim thực nghiệm, quản lý kiểm tra chất lượng vật tư trang thiết bị phục vụ ghép tim. Xây dựng kịch bản tổng diễn tập ghép tim và được diễn tập tổ chức lấy tim và ghép tim từ người cho chết não.

Đặc biệt số lượng bệnh nhân chết não tại Bệnh viện Trung ương Huế hàng năm có đến hàng trăm, nguyên nhân thường gặp là chấn thương sọ não do tại nạn giao thông trong đó có 50% từ bệnh viện các tỉnh miền Trung chuyển đến. Ghép tim có điểm đặc thù chỉ sử dụng nguồn tạng từ người chết não có liên quan chặt chẽ về pháp luật, do đó, mô hình tổ chức là rất quan trọng.

Nghiên cứu triển khai ghép tim trên người lấy từ người cho chết não

Tháng 6/2010, Bộ Y tế thành lập hội đồng để thẩm định và công nhận các điều kiện của Bệnh viện Trung ương Huế về hoạt động ghép tim lấy từ người cho chết não và đến tháng 8/2010, Bộ Y tế ra Quyết định công nhận Bệnh viện Trung ương Huế là cơ sở có đủ tiêu chuẩn để tiến hành ghép tim từ người cho chết não.

14 giờ ngày 28/2/2011, thông tin có nguồn tạng hiến từ người cho chết não được triển khai một cách khẩn trương với tinh thần trách nhiệm rất cao bởi các kíp chuyên môn của hội đồng ghép tạng. Nạn nhân được xác định là chết não theo Luật về chuẩn đoán chết não do Quốc hội ban hành và theo “Tiêu chuẩn lâm sàng, cận lâm sàng để xác định chết não” của Bộ Y tế. Công tác văn bản pháp luật được triển khai, cũng như công tác hồi sức tích cực được tiến hành song song đồng thời với tinh thần khẩn trương nhằm bảo tồn và duy trì sự sống cho các tạng còn lại ở nạn nhân chết não để phục vụ cho công tác ghép tạng.

Diễn biến ca phẫu thuật

15 giờ ngày 1/3/2011, thời điểm quyết định với hội chẩn lần cuối cùng của hội đồng chuyên môn tuyển chọn một bệnh nhân đang được điều trị chờ ghép tim tại Bệnh viện Trung ương Huế có những đặc điểm tương đồng miễn dịch cũng như đáp ứng những yêu cầu chuyên môn của tạng hiến. Để đi đến quyết định cuối cùng này, ngoài thăm khám lâm sàng cần phải thực hiện trên 30 xét nghiệm cận lâm sàng trung và cao cấp tiến hành cho cả người cho tim chết não và người sẽ nhận ghép tim tại hệ thống labo của bệnh viện. Các xét nghiệm cận lâm sàng này được phân ra 3 nhóm nhằm (1) đánh giá chức năng các cơ quan; (2) đánh giá tương hợp miễn dịch; (3) nhằm phát hiện nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra trong và sau khi ghép tim để từ đó có phương thức điều trị thích hợp. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng đã đưa lại tỷ lệ thành công cao nhất, đặc biệt trong bối cảnh khan hiếm nguồn tạng, và tính chất sống còn của cuộc phẩu thuật ghép tim. Tất cả xét nghiệm đều phù hợp và chấp nhận được, tuy vậy chúng tôi phải chờ kết quả xét nghiệm đọ chéo máu, phải mất 8 giờ mới có kết quả. Chờ đợi trong nỗi lo vì bệnh nhân chết não sắp sửa tử vong thì không lấy được tạng và nếu kết quả đọ chéo dương tính thì chống chỉ định ghép. Có nghĩa là phải hoãn thực hiện.

May thay, kết quả đọ chéo âm tính và 22h ngày 1/3/2011, cuộc phẫu thuật ghép tim được bắt đầu tại Trung tâm Tim mạch Huế bởi chính đội ngũ y, bác sĩ Bệnh viện Trung ương Huế. Bệnh nhân được phẫu thuật ghép tim là Trần Mậu Đ., 26 tuổi, ở phường Phú Hội, Thừa Thiên Huế với chẩn đoán bệnh cơ tim giãn; suy tim độ IV; phân suất tống máu thất trái tâm thu EF # 17%. Cuộc mổ diễn ra thuận lợi. Quả tim được lấy từ một nơi khác và chuyển đến phòng mổ ghép trong vòng 30 phút, thời gian thiếu máu lạnh ngắn dưới 1 giờ. Bệnh nhân được phẩu thuật theo kỹ thuật ghép tim đồng vị trí với hai miệng nối tĩnh mạch chủ, đây là một kỹ thuật tuy hơi phức tạp so với kỹ thuật ghép tim cổ điển 2 tâm nhĩ, nhưng kỹ thuật này tận dụng mô tâm nhĩ lành của quả tim hiến giúp cải thiện tình trạng loạn nhịp tim cũng như hạn chế máu phụt ngược qua van 2 lá và van 3 lá và đặc biệt phù hợp với độ tuổi còn rất trẻ của bệnh nhân, phù hợp xu hướng phát triển kỹ thuật mổ ghép tim thế giới. Cuộc mổ kéo dài 5 tiếng và kết thúc lúc 3 giờ sáng ngày hôm sau (2/3/2011).

Sau mổ 7 giờ, các thông số huyết động, hô hấp, tri giác hoàn toàn bình thường, chức năng tim tốt với phân suất tống máu thất trái EF # 57% và đã được rút ống nội khí quản và tự thở. Ngày thức ba sau mổ (5/3/2011) diễn biến khá thuận lợi, các thông số huyết động ổn định, FE 60% không có dấu hiệu nhiễm trùng, các chỉ số miễn dịch trong phạm vi điều chỉnh. Bệnh nhân đang được tập phục hồi chức năng để trở lại sinh hoạt bình thường.

Kết quả rực rỡ

Thành công ban đầu của ca ghép tim trên người lấy từ người cho chết não đã tạo động lực mới cho toàn thể kíp ghép tim và các cán bộ của Bệnh viện Trung ương Huế. Chúng tôi sẽ nỗ lực không ngừng hoàn thiện trong chuyên môn nghiệp vụ và y đức, cầu thị hợp tác phát triển vì sự nghiệp y tế, từng bước cải thiện các vấn đề tổ chức – điều hành, chương trình truyền thông về hiến ghép tạng, quan niệm tôn giáo… Chúng tôi hy vọng có thể thực hiện được một cách thường quy phẫu thuật ghép tim trong thời gian sớm nhất.

Tri ân người đã hiến quả tim cho ca ghép này, chúng tôi trân trọng thành kính thắp nén nhang tưởng nhớ và cầu nguyện cho người vãng sanh cực lạc.

Lịch sử phẫu thuật tim trên thế giới bắt đầu từ năm 1938. Ở nước ta, bắt đầu bằng ca mổ nong van hai lá do hẹp tại Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội do GS Tôn Thất Tùng thực hiện năm 1958. Nhưng do chiến tranh, mãi tới năm 1991, Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh mới được thành lập và triển khai phẫu thuật tim hở một cách chính quy. Trong khi đó nhu cầu điều trị của bệnh nhân tim mạch ngày càng đòi hỏi cấp bách. Với số dân 70 triệu người vào thời điểm những năm 90 cả nước chỉ có hai địa điểm phẫu thuật tim mạch (Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) mỗi năm giải quyết khoảng 1.500 ca. Tại miền Trung, chuyên ngành này còn bỏ trống mặc dù dân số ở khu vực này gần 15 triệu người. Nếu chúng ta biết rằng tại Pháp có 1 Trung tâm Tim mạch cho 1 triệu dân, tại Mỹ có 3 trung tâm cho 1 triệu dân, thì sẽ thấy có sự đòi hỏi cấp thiết phải triển khai phẫu thuật tim tại Bệnh viện Trung ương Huế.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada: