Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 05/11/2013 21:55 (GMT+7)

Nhân nuôi và bảo quản hơn 300 thế hệ ong mắt đỏ ký sinh trên trứng sâu hại

Nằm trong khuôn khổ đề tài:“ Nghiên cứu thành phần loài, sự phát sinh phát triển của côn trùng hại, thiên địch của chúng và một số biện pháp phòng chống sinh học sâu hại rau phục vụ sản xuất rau an toàn trong nhà lưới tại một số điểm ở Hà Nội”, PGS.TS. Trương Xuân Lam cùng các cộng sự tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tiến hành lưu giữ, nhân nuôi và bảo quản hơn 300 thế hệ ong mắt đỏ ký sinh trên trứng sâu hại tại Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật với quy trình nhân nuôi có thể sản xuất đáp ứng đủ số lượng ong thả ra cánh đồng nhằm diệt trừ sâu hại. 

Quy trình nhân nuôi và bảo quản Ong mắt đỏ tại phòng Côn trùng học thực nghiệm được tóm tắt dưới dạng sơ đồ sau:

Khả năng sinh sản của Ong mắt đỏ

Trong điều kiện nhiệt độ trong phòng nuôi từ 26 -29 0C, ẩm độ trung bình 80-85% khả năng ký sinh của ong mắt đỏ trên trứng ngài gạo khá cao. Trung bình mỗi ong ký sinh đẻ được 160-240 trứng, tỷ lệ vũ hoá cao trên 80-90%, tỷ lệ ong cái chiếm 60-75%. Ong mắt đỏ Trichogramma spp được nhân nuôi trong phòng thí nghiệm sau đó đem thả ra ruộng bằng ổ túi xi măng ở thế hệ 278- 280, với tỷ lệ ký sinh đạt 97%. Đề tài đã tiến hành nhân quần thể ong mắt đỏ ký sinh trên trứng ngài gạo trong phòng thí nghiệm và tiến hành thả ở 2 khu vực Lĩnh Nam và Tiền Phong. Tại Lĩnh Nam, tổng số ong Trichogramma chilonis thả giao động 114.600-740.000 cá thể/ ha cây trồng. Kết quả cho thấy tỷ lệ trứng sâu tơ bị OMĐ ký sinh 73-83%. Tại Tiền Phong tiến hành thả hỗn hợp 2 loài ong mắt đỏ Trichogramma chilonis và Trichogramma japonicum phòng trừ sâu tơ hại bắp cải với tổng số ong thả 10.250 cá thể ở khu ruộng thí nghiệm (tương đương 854.000 cá thể ong/ ha). Kết quả cho thấy tỷ lệ trứng sâu tơ bị OMĐ ký sinh trung bình 75%. Rõ ràng việc thả OMĐ đã hạn chế số lượng lớn sâu tơ so với ruộng phun thuốc hóa học trừ sâu.

Ong mắt đỏ đang được lưu giữ và bảo quản bằng trứng ngài gạo

Lưu giữ và bảo quản OMĐ tại Phòng Côn trùng học thực nghiệm

Sử dụng yếu tố nhiệt độ để khống chế sự phát dục của OMĐ là công việc vô cùng quan trọng trong quá trình nhân nuôi và sử dụng chúng. Khi cần nhân nuôi với số lượng OMĐ lớn, quy trình nhân nuôi OMĐ thực hiên trong điều kiện nhiệt độ 29- 33 oC. Mỗi đợt nuôi OMĐ thực hiện với vòng đời chỉ kéo dài 6 - 7 ngày.

Để bảo quản ngắn hạn (thời gian bảo quản 30-45 ngày bảo quản), quy trình nhân nuôi ong mắt đỏ phải thực hiện trong điều kiện nhiệt độ 12- 15 oC, ở bất kì giai đoạn phát triển của OMĐ. Đối với việc bảo quản dài hạn OMĐ (trên 45 ngày), quy trình nhân nuôi ở vào điều kiện nhiệt độ 12 oC, trong giai đoạn trưởng thành và đẻ. Tuy nhiên đối với giai đoạn trứng thì điều kiện nhiệt độ duy trì ở mức 6 oC, cần chú ý bảo quản ong đúng thời kỳ phát triển, bao gói đúng kỹ thuật và giữ được nhiệt độ của phương tiện bảo quản ổn định theo từng thời gian bảo quản.

Sau khi tiến hành bảo quản dài hạn OMĐ ở điều kiện nhiệt độ 6 oC, hơn 300 thế hệ ong mắt đỏ đã được lưu giữ và bảo quản tại Phòng Côn trùng học thực nghiệm với khả năng ký sinh trong điều kiện giữ lạnh trước khi nhân nuôi ở các thề hệ 201-301 giao động đạt 77,95% - 88,24%.

Quy trình nhân nuôi Ong mắt đỏ tại phòng Côn trùng học thực nghiệm

Sử dụng ong mắt đỏ phòng trừ sâu hại rau

Để phòng trừ sâu tơ hại rau, người nông dân kết hợp sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu có tốc độ cao, thời gian phân hủy chậm, tần suất phun thuốc cao dẫn đến số lần phun thuốc trừ sâu tăng từ 12- 14 lần trên một vụ rau, cộng thêm khả năng lớn nhiễm độc từ thuốc hóa học trong rau. So với việc sử dụng ong mắt đỏ, số lượng sâu tơ được khống chế thể hiện trên 3 hiệu quả: Giữ được rau sạch 40- 50 ngày tuổi không phải phun thuốc hóa học trừ sâu tơ, giảm từ 5- 6 lần phun thuốc so với ruộng rau bình thường. Do hạn chế phun thuốc trừ sâu nên rau đảm bảo tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng.

OMĐ là sản phẩm sinh học đã được áp dụng rộng rãi, mang lại lợi ích cho cây trồng. Vì vậy việc bảo quản và phát triển sản phẩm OMĐ và lưu giữ hơn 300 thế hệ ong mắt đỏ tại Phòng Côn trùng học thực nghiệm là việc làm cần thiết. Sử dụng OMĐ không chỉ có giá trị giúp người nông dân phòng trừ sâu hại cây trồng tránh thiệt hại năng xuất mà còn giúp người dân nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất, tránh gây độc hại cho con người và giảm gây ô nhiễm môi trường sống. Đây còn là một trong những hướng nghiên cứu hứa hẹn khả năng duy trì sự cân bằng sinh thái và vững bước tiến vào nền sản xuất nông nghiệp sạch trong tương lai.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.