Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 13/07/2006 15:07 (GMT+7)

Nguyên tắc đào tạo ngành khoa học máy tính ở Mỹ

Các tạp chí chuyên ngành ở Mỹ và các nước khác cũng thỉnh thoảng có bài phàn nàn về việc sinh viên mới ra trường thiếu các mảng kiến thức cần thiết.Trong bài này, tôi xin chia sẻ vài thu thập cá nhân về phương pháp thiết kế chương trình ngành KHMT ở Mỹ, và chỉ giới hạn trong phạm vi chương trình đại học.   

Các nguyên tắc chung
Chương trình (CT) đào tạo cử nhân có khả năng thích ứng được với thay đổi vũ bão của công nghệ và khoa học tính toán; khả năng này bao gồm tính độc lập trong tư duy, tính sáng tạo trong ứng dụng, khả năng tự tìm động lực làm việc và học tập cho bản thân...

Tôi đã đọc không ít các bài báo liệt kê một danh sách dài các mảng kiến thức mà sinh viên mới ra trường còn thiếu. Các công ty mạng máy tính thì than phiền rằng sinh viên lập trình C/C++ kém, kiến thức quản trị mạng không có; các công ty làm web thì phàn nàn sinh viên thiếu kiến thức Java, thương mại điện tử... Rõ ràng là không một chương trình nào có thể bao quát hết những thứ có khả năng cần cho tương lai. Một cử nhân với khả năng thích ứng cao sẽ tự học thêm một cách hiệu quả khi công việc hoặc nghiên cứu có yêu cầu mới.

Khi than phiền rằng giáo dục chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế, các công ty cũng phải có phần trách nhiệm đào tạo các nhân viên tương lai dưới các hình thức thực tập viên (internship, co-op...) và các chương trình tập huấn khi mới nhận việc. Các chứng chỉ chuyên môn của các công ty lớn (Microsoft, Cisco, Oracle...) ngoài mục tiêu thương mại và quảng cáo thương hiệu, cũng có nhiệm vụ làm cầu nối giữa học đường và công nghiệp. Không ai có thể vừa tốt nghiệp xong "nhảy bừa" vào làm tốt một việc bất kỳ.

Nhân tố quan trọng nhất tạo khả năng thích ứng với nhu cầu thực tế là chính bản thân sinh viên. Có lẽ không có ngành nào mà sinh viên có lợi thế trên phương diện tài liệu học tập như ngành KHMT. Chỉ cần một chút tiếng Anh chuyên môn là sinh viên đã có thể tìm hiểu trực tuyến hầu hết các tài liệu trên Internet. Với một môi trường học tập và tri thức “mở” như Internet, không thể đổ lỗi hoàn toàn cho “cơ chế giáo dục” thiếu đổi mới.

Chương trình có các thành phần có thể "cá nhân hóa" cho cả giảng viên lẫn sinh viên: để sinh viên có thể chọn học, nghiên cứu về các đề tài phù hợp với sở thích và khả năng của họ; và để giảng viên có thể chọn lọc dạy những thứ họ cần học/nghiên cứu thêm, giữ được sự say mê trong công việc.

Với sinh viên, CT phải có các lớp tự chọn. Sinh viên nào định học thạc sĩ, tiến sĩ, thì có thể chọn các môn lý thuyết. Ngược lại, sinh viên nào muốn biết thêm các kiến thức ứng dụng ngay được thì có thể tự chọn các lớp như quản trị mạng, thiết kế VLSI, lập trình cho embeded systems, bảo mật...

Phần tự chọn làm CT linh hoạt hơn, cho sinh viên sự độc lập tự chủ trong hướng nghiệp. Mặt khác, phần này cũng khiến người thầy thêm phức tạp. Ở Mỹ, mỗi sinh viên đại học đều có một giáo sư hướng dẫn với vai trò chủ yếu là hướng dẫn sinh viên lựa các lớp tự chọn sao cho phù hợp với khả năng, sở thích của sinh viên cùng với các yêu cầu hiện tại của công nghệ. Vai trò này không giống với vai trò hướng dẫn nghiên cứu sinh, dù rằng chúng có phần tương đồng. Để làm tốt công việc này đòi hỏi người thầy phải "tâm lý", có cái nhìn thoáng, và nếu có thể - có nhiều quan hệ với các công ty để giới thiệu sinh viên.

Nhân tố quan trọng nhất tạo khả năng thích ứng với nhu cầu thực tế là chính bản thân sinh viên. Quan trọng hơn, các giảng viên và giáo sư rất cần một chương trình có thể cá nhân hóa được để phục vụ việc cải thiện kiến thức và làm mới sở thích của chính họ. Không có sự làm mới tri thức của người thầy thì CT sẽ là “CT chết”, gây hậu quả lâu dài cho nhiều thế hệ sinh viên. Ở Mỹ thì các giáo sư và giảng viên hàng năm đều có thể đề cử một lớp mới thêm vào chương trình, hoặc thay cho một lớp cũ đã lỗi thời. Đó là chưa kể sự tự do gần như tuyệt đối của người thầy trong quyền chọn lựa dạy cái gì trong một lớp nhất định. Sách giáo khoa cũng không giống nhau. Thầy nào thích sách nào thì dạy sách đó, và chủ yếu có tính chất tham khảo. Ngành máy tính có lợi thế rất lớn so với các ngành khác là cái mới ra đời hàng phút hàng giây. Đại số tuyến tính cơ bản không thay đổi mấy so với năm mươi năm trước, nhưng mạng máy tính năm 2006 khác xa năm 1996.

CT nhằm đào tạo các cử nhân có tính chuyên nghiệp cao: tính chuyên nghiệp bao gồm khả năng làm việc trong nhóm, cảm nhận về sự công bằng trong công tác, phương cách giao tiếp ứng xử với đồng nghiệp, cấp trên cấp dưới, hiểu biết về các quyền lao động, luật sở hữu trí tuệ và bằng phát minh...

CT có các lớp với các dự án làm theo nhóm trong đó các thành viên được đánh giá theo kết quả làm việc của nhóm thay vì của từng cá nhân; hướng sinh viên đến một tinh thần trách nhiệm chung cho toàn nhóm; tránh kèn cựa bất đắc chí “tôi làm nhiều/anh làm ít”, “tôi giỏi/anh kém”; chịu trách nhiệm phác thảo kế hoạch và hoàn tất dự án đúng thời hạn... Đây cũng là một trong các cơ hội cho sinh viên luân phiên nhau đóng vai trò “lãnh đạo”, tổ chức và vận hành nhóm một cách khoa học, hướng tới việc đứng đầu các nhóm làm việc thật sự sau này. Thậm chí, một nhóm xuất sắc sẽ có khả năng kết tinh ý tưởng thành một sản phẩm hữu dụng, kinh doanh được ngay khi còn đang đi học.

Ở Mỹ, trừ vài ngoại lệ, không bao giờ có chuyện khoa giữ sinh viên lại làm giảng viên/giáo sư vì hai lý do chính: (a) sinh viên tốt nghiệp trường X sẽ bổ sung được cho trường Y cả về tư duy lẫn chuyên môn, giữ sinh viên lại thì khả năng làm mới tư duy kém đi; và (b) để giữ tính chuyên nghiệp trong sinh hoạt giữa các đồng nghiệp với nhau; khó khi nào một “sinh viên lên giảng viên” lại có thể đối xử với thầy hướng dẫn của mình như một đồng nghiệp thực thụ.

CT phù hợp với cơ sở hạ tầng về nhân lực vật lực hiện tại và phù hợp với chiến lược phát triển nhân/vật lực trong tương lai của cơ sở đào tạo.

Không phải trường nào cũng có một khoa khoa học máy tính khổng lồ như của trường CMU. Các trường như Princeton, Yale, có các khoa KHMT nhỏ nhưng chất lượng rất cao, vì họ tập trung phát triển thế mạnh chiều sâu thay vì phát triển tràn lan, ngắn hạn.

Các khoa thường sẽ được chia thành vài nhóm giáo sư/giảng viên, mỗi nhóm chuyên về một phân ngành nào đó. Có 4 nhóm mỗi nhóm 5 người thì tốt hơn là có 20 nhóm mỗi nhóm 1 người. Trường này mạnh về mạng thì trường kia mạnh về thuật toán. Thế mạnh thu hút tài năng và tài năng lại tăng thế mạnh -quả cầu tuyết cứ thế lăn.

Các thế hệ sinh viên cùng một trường sẽ có xu hướng giúp đỡ lẫn nhau, do đó việc có vài sinh viên giỏi, tốt nghiệp xong ở các vị trí quản lý của các công ty xung quanh sẽ có ảnh hưởng rất tích cực đến các thế hệ cử nhân tiếp theo. Vì thế, trong chiến lược phát triển của khoa cần phải có các chương trình học bổng thu hút học sinh giỏi, các chương trình cựu sinh viên để giữ quan hệ tốt với sinh viên cũ, và một ban cố vấn công nghiệp (industrial advisory board – có thể bao gồm sinh viên cũ) để thích ứng CT với tình hình hiện tại và đôi khi xin được tài trợ phát triển khoa.

Vai trò của các tổ chức chuyên môn

Ở Mỹ, từ những năm đầu thập niên 60, bốn tổ chức chuyên ngành là ACM, IEEE-CS, AIS, và AITP đã thành lập các nhóm chuyên gia bàn thảo và viết các hướng dẫn về thiết kế chương trình đào tạo trong các ngành liên quan đến tính toán. Gần đây, họ cộng tác với nhau để viết. Bạn có thể đọc thêm phần lịch sử trong bản nháp báo cáo tổng kết năm 2005 (viết tắt là CC2005) của họ để biết thêm chi tiết. Ngoài ra, còn có các tổ chức phi lợi nhuận và phi chính phủ có chức năng kiểm định chất lượng chương trình giáo dục như ABET. Cần phải nhấn mạnh rằng tính độc lập tự chủ của các trường đại học ở Mỹ rất cao, cho nên các tài liệu này chỉ mang tính tham khảo.
Nhân tố quan trọng nhất tạo khả năng thích ứng với nhu cầu thực tế là chính bản thân sinh viên.

Nguyên tắc 2: Chương trình giảng dạy linh hoạt khiến vai trò người thầy thêm phức tạp

CC2005 "gút" lại 5 CT chính hiện nay: Khoa học máy tính (KHMT - computer science), Kỹ thuật máy tính (KTMT - computer engineering), Hệ thống thông tin (HTTT – information systems technology), Kỹ thuật phần mềm (KTPM - software engineering), và Công nghệ thông tin (CNTT – information technology).

Ý nghĩa của các CT này có thể tóm tắt như sau:

KTMT: ngành này liên quan đến thiết kế và xây dựng máy tính, các hệ thống máy tính, và các thiết bị liên quan. Hiểu nôm na là nó coi trọng phần cứng.

HTTT: ngành này liên quan đến việc thiết kế các hệ thống thông tin cho các cơ quan, tổ chức. Ngành nhấn mạnh vào phần thông tin của CNTT và thường được các khoa kinh doanh (business) dạy. Các chương trình kiểu hệ thống thông tin quản trị (information management systems) là thuộc diện này.

KTPM: ngành này đặt trọng tâm ở việc thiết kế, phát triển, bảo trì phần mềm và các chu trình làm việc liên quan đến phần mềm. Trong một chừng mực nhất định, KTMT tương đương với ngành xây dựng, và KTPM tương đương với ngành kiến trúc.
CNTT: trái với HTTT, ngành CNTT chú trọng vào phần công nghệ. Các doanh nghiệp, các tổ chức tư nhân và nhà nước hiện nay đều cần có một phòng hay  một ban IT, với các nghiệp vụ liên quan đến cài đặt mạng, bảo trì máy, cập nhật phần mềm chống worms, virus, đặt tường lửa... Ngành này đang phát triển mạnh vì nhu cầu rất thực tế này.

KHMT: đây là phân ngành rộng nhất của tính toán. Các chủ đề của ngành này có thể nói là bao quát toàn bộ những thứ liên quan đến tính toán, từ cấu trúc máy tính đến các hệ thống thông minh, người máy, đến thuật toán và lý thuyết tính toán.

Với khối kiến thức khổng lồ như thế, chọn lựa và thiết kết một CT đào tạo hiển nhiên không phải dễ dàng. Cũng chính vì thế, việc nhiều khoa KHMT và nhiều công ty máy tính có nhiều dị biệt về triết lý và nội dung đào tạo cũng là điều dễ hiểu. Hy vọng rằng các nguyên tắc đã nêu phần nào hữu ích trong quá trình thiết kế CT.

Cái “thần” của KHMT

Đánh giá kết quả theo nhóm thay vì cá nhân sẽ hướng sinh viên đến tinh thần trách nhiệm chung cho toàn nhóm.
Đánh giá kết quả theo nhóm thay vì cá nhân sẽ hướng sinh viên đến tinh thần trách nhiệm chung cho toàn nhóm.
Các điều đã viết vẫn là phần cơ học của một chương trình đào tạo và các phần tử liên quan. Để trở thành một kỹ sư hay khoa học gia máy tính thực thụ, sinh viên phải nắm bắt được tinh thần của ngành, bao gồm các khía cạnh kỹ thuật, khoa học, xã hội, và lịch sử của KHMT. Đối với sinh viên mới bước vào ngành, ta cần phát triển cho họ các mô hình nhận thức trong não về các khái niệm cơ bản của KHMT. Thay vì định nghĩa cụ thể, ta xét một vài ví dụ về cảm nhận cá nhân với KHMT:

• Khái niệm “tính toán” (computation), một trong những đóng góp sâu sắc nhất của KHMT cho kho tàng tri thức của nhân loại. Tính toán không bị ràng buộc bởi một mô hình cụ thể nào đó (như mô hình máy Turing, mô hình RAM/Bus/CPU...). Không ít các nhà khoa học tin rằng các quá trình sinh học và vật lý là các quá trình tính toán. Tự nhiên có các thuật toán của nó. Không phải ngẫu nhiên mà KHMT đang vươn cánh tay non trẻ của nó sang sinh học, vật lý, kinh tế, toán học, với các phân ngành phát triển cực nhanh những năm gần đây như computational biology, computational physics, quantum computing, computational game theory, computational chemistry, computational neuroscience... Giải Nobel Kinh tế 2005 được trao cho các khoa học gia nghiên cứu lý thuyết trò chơi. Tôi tin vài mươi năm nữa sẽ có Nobel kinh tế cho người làm về computational game theory. Nobel Vật lý liên quan đến tính toán lượng tử có lẽ sẽ đến sớm hơn nữa. Chú ý rằng các phân ngành kể trên không đơn thuần là ứng dụng máy tính vào một khoa học khác. Rất nhiều các quá trình của tự nhiên về cơ bản là quá trình tính toán, và chúng ta mới chỉ bắt đầu khám phá các quá trình tính toán trong tự nhiên.

• KHMT không phải là Java, C++, hay lập trình web. Thật đáng buồn khi một sinh viên máy tính nghĩ về ngành máy tính bằng ánh mắt của một lập trình viên. Lập trình có thể là công việc ta phải làm hàng ngày, nhưng mỗi chúng ta cần phải hiểu rằng lập trình chỉ là một phương pháp bổ củi để hiện thực hóa các ý tưởng thiết kế tuyệt đẹp, các thuật toán sâu sắc, hay các hacks thông minh. Bổ củi và khắc gỗ hiển nhiên là khác nhau.

• Cũng thật đáng buồn nếu tầm nhìn của dân máy tính bị gói gọn từ Bill Gates sang Steve Jobs, từ IBM đến Oracle, hay từ search engines đến spreadsheets. Khi nghĩ đến Vật lý ta không chỉ liên tưởng đến CEO của các công ty làm máy tăng tốc hạt, các xưởng sản xuất bom nguyên tử, hay làm vật liệu bán dẫn. KHMT còn rất trẻ so với Vật lý, nhưng KHMT cũng có một câu chuyện cực kỳ truyền cảm để kể. Ảnh hưởng về mặt khái niệm của KHMT đến xã hội và các ngành khoa học khác nhiều không kể xiết.
Sinh viên nào nắm bắt được tinh thần của chuyên môn mình sẽ là sinh viên có nhiều khả năng giỏi chuyên môn và thích ứng tốt nhất.

Nguồn: Tia sáng, số 12,20/06/2006

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.