Ngôn ngữ kinh tế thị trường trong một bài ca dao Hà Nội
Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi cung cấp toàn văn bài ca dao như sau:
Bản a:Hà Nội như động tiên sa
Sáu giờ mới hết đèn xa, đèn gần
Vui nhất là chợ Đồng Xuân
Thứ gì cũng có xa gần bán mua
Giữa chợ có anh hàng dừa
Hàng cam, hàng quít, hàng dưa, hàng hồng
Chả tin đứng lại mà trông
Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong rượp rà
Cổng chợ có chị hàng hoa
Có người đổi bạc, chạy ra chạy vào
Lại thêm súc sắc bán rao
Lại thêm kẹo đạn, miến xào, bún bung
Lại thêm bánh rán, kẹo vừng
Đàng trước bán chả, sau lưng bán giò
Ăn vào chuyện nhỏ, chuyện to
Lại thêm chú khách bánh bò đi rao
Xăm xăm khi mới bước vào
Hàng tôm, hàng tép, xôn xao rề rề
Thanh nhất là chị hàng lê
Loạc quạc hàng vịt, tò te hàng gà
Nứt nở như chị hàng na
Chua chát hàng khế, ngọt nga hàng đường
Thơm ngát là chị hàng hương
Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng
Lôi thôi là chị hàng dang
Vừa đan, vừa bán cả sàng lẫn nia
Trề môi như chị hàng thìa
Vừa bát, vừa đĩa, nhiều bề thong dong
Đỏ đon như chị hàng hồng,
Hàng cam, hàng quít, bưởi bồng, thiếu chi
Trống quân hát chả ra gì
Mỗi người một vẻ ai thì kém ai
Lại thêm cạo mặt, ngoáy tai
Lại thêm ngoài chợ có người hoạ tranh
Rau thơm, rau húng, rau hành
Mùi, thơm, hẹ, bí, xanh xanh đầy nhà
Thịt bò, thịt lợi bày ra
Cà chua, mướp đắng lá đa ngọt thường
Có người bán lược bán gương
Có người bán áo phô trương giãi bày
Có người bán dép, bán giày
Có người bán cả dãy bày đồ chơi
Bản b:- Hà Nội như động tiên sa
Sáu giờ máy hết đèn xa, đèn gần
- Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong mượp nà
- Lại thêm “xực tắc” bán rao
- Trước mắt bún chả, sau lưng bánh giò
- Ồn ào chuyện nhỏ, chuyện to
- Líu lo chú khách bánh bò bán rao
- Hàng tôm, hàng tép, xôn xao mọi bề
- Lịch sự là chị hàng lê
- Chua vào hàng sấu, ngọt ra hàng đường
- Bán rổ, bán sảo, bán sàng, bán nia
- Thưỡi môi như chị hàng thìa
- San sát hàng bát nhiều bề thong dong
- Trống quân hát chả sót gì
- Ngoài ra cải, diếp, răm, hành
- Thìlà, cải cúc xanh xanh rõ ràng
- Có người bán cả hòm rương tủ quầy
- Có người bán cả ghế mây để ngồi
- Suốt ngày họp chợ ai ơi
Thượng vàng hạ cám bao người bán mua
Hay cắp như chị hàng cua
Nhảy nhót hàng ếch ai mua được rày
Có người xem tướng xem tay
Chầu văn đồng bóng ốp ngay tức thời
Thôi thì đủ thức đủ người
Ồn ào nhộn nhịp nói cười chen vai
Có anh bán thuốc cũng hay
Mồm rao liến láu, bệnh khỏi ngay tức thời…
Bk:- Hà Nội như động tiên nga
Sáu giờ tắt hết đèn xa, đèn gần
- Cà chua, mướp đắng lá đa ngọt đường
- Đủ mùi phở tái cháo lươi giãi bày
- Người bán cây cảnh người bày đồ chơi
- Cà chua mướp đắng, bí xanh đầy nhà
Bí đao, bí đỏ bày ra
Su hào, xà lách, thì là thiếu chi
Rau mùi, rau húng kể gì
Hạt tiêu, ớt, tỏi kể chi lạ thường…
Bài ca dao thể hiện rất rõ ràng không gian kinh tế hàng hoá của chợ Đồng Xuân. Không gian chợ Đồng Xuân không chỉ là không gian kinh tế mà còn có cả không gian văn hoá, tín ngưỡng. Hàng hoá buôn bán ở chợ đủ loại. Loại hàng hoá từ sản xuất nông nghiệp như các hàng hoa, rau, củ quả như “ hàng hoa,… rau thơm, rau húng, rau hành, mùi, hẹ, bí xanh… cà chua, mướp đắng, bí đao, bí đỏ, su hào, xà lách, thì là, cải cúc, hạt tiêu, ớt tỏi (bk)”. Loại hàng trái cây như “ hàng dừa, hàng cam, hàng quít, hàng dưa, hàng hồng,… na, khế… bưởi, bồng… hàng lê”. Loại hàng từ chăn nuôi và hoạt động đánh bắt gồm các mặt hàng thực phẩm tươi sống như “ hàng tôm, hàng tép, hàng vịt, hàng gà, hàng cá… thịt bò, thịt lợn… hàng cua, hàng ếch (bản b)”. Loại hàng thực phẩm ăn uống gồm các hàng bánh và các món ăn như: “ súc sắc (mì vằn thắn), kẹo đan, kẹo cau, bún chả, bánh giò (bản b), miến xào, bung, bánh bò, bánh rán, kẹo vừng, chả, giò… bánh đa, phở tái, cháo lươn (bk)”. Loai hàng từ sản xuất thủ công mỹ nghệ gồm các hàng vật dụng tiêu dùng như “ hàng vóc, hàng nhiễu… hàng đường, hàng hương, hàng dang, sàng, nia, thìa, bát, đĩa… dép, giày, đồ chơi, … lược, gương, áo… hòm, rương, tủ quầy, ghế mây, rổ, sảo (bản b)”. “ Hàng vàng” là một loại hàng kinh doanh đặc biệt, kèm theo dịch vụ “ đổi bạc” thể hiện rõ nền kinh tế tiền tệ, một nền kinh tế thị trường. “Bạc” ở đây có thể là miếng bạc, một loại kim ngân có giá trị sau vàng và cũng có thể là tờ bạc Đông Dương thời thuộc Pháp vào đầu thế kỷ XX. Ngoài ra có các loại kinh doanh dịch vụ như “ cạo mặt, ngoáy tai” và kinh doanh y dược như “bán thuốc” thuốc Bắc thuốc Nam chữa bệnh. Chợ Đồng Xuân không chỉ là nơi buôn bán kinh doanh dịch vụ mà còn là nơi hoạt động văn hoá nghệ thuật, tín ngưỡng như “ hoạ tranh, hát trống quân… cò lả, chầu văn, hoạ tranh, xem tướng tay, đồng bóng (bản b), bán cây cảnh (bk)”. Qua các mặt hàng buôn bán ở chợ, có thể thấy có nhiều ngành nghề đã trở thành hàng hoá. Các mặt hàng rất phong phú, đa dạng “ thượng vàng hạ cám”, phục vụ tất cả nhu cầu của người dân, từ nhu cầu vật chất đến tinh thần, từ ăn uống đến sinh hoạt, từ chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp đến vui chơi, tín ngưỡng… Như vậy, chợ không những trở thành một siêu thị mà còn là một trung tâm kinh doanh dịch vụ tổng hợp.
Không gian chợ được miêu tả khá bao quát, từ cổng chợ cho đến giữa chợ. Mỗi mặt hàng kinh doanh theo một khu vực riêng. Hàng hoa thì ở ngay cổng chợ. “ Khi mới bước vào” bên trong chợ là “ hàng tôm hàng tép”. Hàng trái cây thì nằm giữa chợ. Hàng ăn uống nằm san sát trước sau nên mới có “ Trước mắt bún chả, sau lưng bánh giò”. Một không gian sầm uất, rộn ràng, ồn ả đủ các giọng điệu. Tiếng kêu “xục xắc” của người bán mì vằn thắn gõ vào hai thanh tre. Tiếng rao của “ chú khách bánh bò”, của anh bán thuốc…Tiếng của các con vật như quàng quạc hàng vịt, tò te hàng gà…Đặc biệt là giọng hát ngân nga, trầm bổng, sâu lắng của các điệu hát trống quân, cò lả, hát chầu văn… Một không gian tươi xanh của hoa quả với đủ màu sắc: xanh, đỏ, hồng… Một không gian của đủ các loại mùi vị: mùi thực phẩm của các món ăn hấp dẫn, mùi thơm của hoa quả tươi và hương, mùi tanh tưởi của hàng tôm cá… Mọi thứ đều đua nhau khoe sắc, khoe mùi, khoe tiếng… Mỗi thứ đều được miêu tả theo một vẻ, một phong cách riêng đúng với cấu tạo hoặc bản chất của nó: Thanh nhất là chị hàng lê. Nứt nở như chị hàng na, chua chát hàng khế, ngọt nga hàng đường. Trề môi như chị hàng thìa… Đỏ đon như chị hàng hồng…Nó tạo nên một không gian sống động, một không khí thật rộn ràng, vui tươi. Chợ là nơi đô hội, là nơi mua sắm, ăn uống, vui chơi. Thời gian chợ họp suốt ngàytừ sáng cho đến khoảng năm giờ rưỡichiều. Không gian chợ không những thể hiện được qui mô to lớn của chợ Đồng Xuân mà còn thể hiện sự nhộn nhịp, sầm uất của các hoạt động diễn ra tại chợ.
Phương thức kinh doanh, cách thu hút khách hàng cũng được thể hiện khá sinh động. Người đổi bạc thì “ chạy ra chạy vào” một cách tất bật, khẩn trương. Người bán mì vằn thắn thì dùng hai thanh gỗ thay cho tiếng chào mời. Đây là kiểu rao rất đặc trưng, chứng tỏ âm thanh từ hai thanh gỗ đánh vào nhau đã quen thuộc với mọi người nên chỉ cần nghe tiếng là mọi người biết có món mì vằn thắn. Chú khách bán bánh bò thì vừa đi vừa rao. Hàng dang thì vừa đan vừa bán. Đây là phương thức kinh doanh nhỏ, thủ công nên kết hợp vừa sản xuất vừa bán chứ không buôn bởi buôn hàng này cồng kềnh, ít lời. Chọn cách vừa đan vừa bán tại chỗ là tiện hơn cả. Hàng thịt bò, thịt lợn thì lại “bày ra” để người mua tuỳ sức xem xét, chọn lựa loại thịt nào thích hợp. Hàng vàng và hàng vải được xem là loại đặc dụng nên cách bán thì “ Hàng vóc hàng nhiễu thong dong”, không sợ ế, sợ hỏng nên chẳng cần gì phải vội. Còn hàng vàng lại phô trương, khoe cái vẻ giàu có, hào nhoáng của mình. Anh bán thuốc thì mồm rao liến láu, bệnh khỏi ngay tức thờilà một cách vừa quảng cáo chất lượng thuốc vừa quảng cáo khả năng chữa bệnh của người vừa bốc thuốc vừa kê đơn. Nơi nào có hát chầu văn thì người làm nghề đồng bóng liền ốp ngay tức thời.Hát trống quân, cò lảtuy không phải là thứ hàng hoá kinh doanh nhưng cũng là một thứ hàng đặc biệt nên muốn thu hút người nghe thì phải có cách thức hát riêng nên mỗi người một vẻ ai thì kém ai, nên cứ thế đua giọng. Như vậy, cách thức kinh doanh là đa dạng, quy củ, bài bản, trở thành nét riêng, độc đáo. Mỗi loại hàng hoá có một phương thức kinh doanh riêng, không loại nào giống nhau. Tính thị trường thể hiện trong phương thức kinh doanh đa dạng, đặc biệt phù hợp với từng loại hàng hoá.
Đây là bài ca dao sử dụng ngôn ngữ kinh tế thị trường với một lượng từ ngữ phong phú, đặc sắc. Bài ca dao sử dụng ngôn ngữ đa giọng điệu. Giọng miêu tả, giọng tự tình, ngôn ngữ nhân vật theo đặc trưng nghề nghiệp. Dù là một bài ca nhưng có nhiều bản khác nhau nên mỗi bản có một nét riêng về cách thể hiện từ ngữ. Vì thế bài ca không chỉ mang ý nghĩa về nội dung phản ánh đời sống đô thị Hà Nội xưa mà còn là kho ngữ vựng về tiếng Hà Nội nói riêng và vùng Kinh Bắc nói chung. Đó là cách phát âm “s” thành “x”: “tiên sa” thành “tiên xa” bản (a). Cùng thể hiện một sự vật, một hiện tượng nhưng có cách dùng từ ngữ khác nhau: “thứ gì - thức gì”, “trề môi - thưỡi môi”, “rượp rà - nượp nà”, “loạc quạc - quàng quạc”, “mới hết - tắt hết - máy hết”. Riêng từ “mới” và “máy” cần có sự khảo cứu để làm rõ liệu đó là “nhà máy điện tắt hết đèn” hay là một biến thể của một từ vựng thuộc hệ Tày - Thái: mày - máy - mới. Theo các công trình nghiên cứu về nguồn gốc ngôn ngữ thì tiếng Việt nằm trong ngữ hệ ngôn ngữ Nam Đảo và Đông Nam Á. Hiện nay, trong ngữ vựng tiếng Lào - Thái thì “máy” có nghĩa là mới. Có thể “máy hết” là một cách nói tắt của nhà máy điện hết chạy phát điện.
Bài ca mở đầu là hai câu ca ngợi vẻ đẹp Hà Nội một cách khái quát. Đó là vẻ đẹp sang trọng, huyền ảo “động tiên sa”. Vẻ đẹp lộng lẫy ấy của Hà Nội được thể hiện qua vẻ đẹp của chợ Đồng Xuân. Chợ Đồng Xuân là chợ lớn, tiêu biểu của chợ ở Hà Nội, vì thế tác giả dân gian đã chọn chợ này làm tiêu điểm để thể hiện sự “vui nhất”, cũng là sự giàu sang của đất Kinh kì. Các từ ngữ về tên hàng hoá, cách thức kinh doanh mua bán đã thể hiện rõ một nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường tại đô thị Hà Nội ở những năm đầu của thế kỷ XX. Tuy nhiên, tiền đề cho một nền kinh tế hàng hoá thì xuất hiện sớm hơn nhiều, chậm nhất là vào thời nhà Lê Trịnh ở Đàng Ngoài và Nguyễn Hoàng ở Đàng Trong. Bài ca như một bảo tàng sống động về chợ Hà Nội và kinh tế hàng hoá Hà Nội, góp phần tạo nên một bức tranh văn hoá đô thị Hà Nội khá rõ nét.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Văn Chiến (1992),Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á , Trường ĐHSPNN xuất bản, H.
2. Mai Ngọc Chừ (2001),Các ngôn ngữ phương Đông , Nxb ĐHQG Hà Nội.
3. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), Phan Đăng Tài, Nguyễn Thuý Loan, Đặng Diệu Trang (1995),Kho tàng ca dao người Việt, Tập II, Nxb VHTT, H.
4. Lê Đức Luận (2003),Văn hoá đô thị Hà Nội qua ngôn ngữ ca dao, Ngôn ngữ và Đời sống, số 4 (90), H.
5. Phan Ngọc (2000),Thử xem xét văn hoá văn học bằng ngôn ngữ , Nxb Thanh Niên, H.
6. Lê Quang Thiêm (2004),Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ , Nxb ĐHQG Hà Nội.
7. Trần Ngọc Thêm (1998),Cơ sở văn hoá Việt Nam , Nxb GD, H.








