Nghiên cứu thực nghiệm thuốc hạ đường huyết bằng thảo dược
Bạch truật:
Bạch truật có tác dụng hạ đường máu trên động vật được gây tiểu đường thực nghiệm. Trong y học cổ truyền, bạch truật được dùng phối hợp với một số dược thảo khác để trị tiểu đường. Các hoạt chất gây hạ đường máu là các atractan A, B và C.
Camthảo đất:
Hoạt chất amellin trong cam thảo đất có tác dụng làm giảm đường máu và các triệu chứng của bệnh tiểu đường. Sự giảm nồng độ đường trong máu và nước tiểu diễn ra dần dần. Nó còn làm tăng mức dự trữ kiềm bị hạ thấp ở bệnh nhân tiểu đường và giảm hàm lượng các chất tạo ceton trong máu.
Câu kỷ:
Câu kỷ có tác dụng hạ đường máu trên động vật tiểu đường và tác dụng ức chế men aldose reductose. Men này gây tích lũy sorbitol trong tế bào, là nguyên nhân quan trọng sinh những biến chứng nghiêm trọng của tiểu đường như các bệnh lý võng mạc, thần kinh và thận. Câu kỷ tử được dùng phối hợp với các vị khác trong y học cổ truyền để làm thuốc chống tiểu đường.
Hành tây:
Hành tây có tác dụng dự phòng sự tăng đường máu bởi một số chất vẫn thường gây tiểu đường trên động vật thí nghiệm. Trên lâm sàng, cho bệnh nhân tiểu đường uống dịch ép hành tây đã có tác dụng làm giảm đường máu. Hành tây sống cho vào thức ăn hàng ngày của bệnh nhân tiểu đường không phụ thuộc insulin đã có tác dụng hiệp đồng và làm giảm liều thuốc cần thiết để điều trị bệnh.
Để làm giảm đường máu, cho bệnh nhân tiểu đường uống dịch ép hành tây, mỗi buổi sáng một muỗng canh, uống liền trong 1 - 2 tháng sẽ có hiệu quả.
Mướp đắng:
Quả mướp đắng (khổ qua) còn xanh có tác dụng hạ đường máu trên động vật đã được gây tiểu đường thực nghiệm. Cho động vật uống hàng ngày trong thời gian dài làm chậm sự phát triển bệnh võng mạc và đục thủy tinh thể của mắt. Trên lâm sàng, cho bệnh nhân tiểu đường type 2 uống đều đặn hàng ngày bột quả mướp đắng sẽ có tác dụng hạ đường máu, tác dụng này có tính chất tích lũy và tăng dần. Đường máu hạ xuống gần mức bình thường sau 4 - 8 tuần điều trị. Sau đó, tác dụng hạ đường máu được duy trì với liều mướp đắng bằng nửa liều ban đầu.
Hoạt chất chính trong mướp đắng có tác dụng hạ đường máu là charantin, glycosid steroid.
Bài thuốc:Dùng quả mướp đắng đã phát triển to nhưng còn xanh, cắt mỏng, phơi nắng cho khô. Khi dùng tán thành bột mịn. Mỗi ngày uống 12 - 20 g, chia làm 2 - 3 lần, sau bữa ăn, chiêu (uống một ít) với nước. Sau khoảng 2 tháng dùng thuốc, khi đường máu hạ xuống gần mức bình thường, giảm liều thuốc xuống một nửa để duy trì.
Nếu có nhu cầu dự trữ mướp đắng khô lâu ngày để dùng dần thì để nơi khô mát, thỉnh thoảng đem phơi hay sấy khô để tránh mốc mọt.
Nhân sâm:
Nhân sâm có tác dụng hạ đường máu trên động vật đã được gây tiểu đường thực nghiệm. Trong thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân tiểu đường, nhân sâm có tác dụng hiệp đồng với thuốc hóa dược. Dùng nhân sâm phối hợp với thuốc hóa dược có thể giảm bớt liều thuốc này, thời gian hạ đường máu được kéo dài hơn. Trong y học cổ truyền, nhân sâm được dùng phối hợp với một số dược thảo khác chữa tiểu đường.
Bài thuốc:Nhân sâm 15 g, thiên môn 30 g, sơn thù 25 g, câu kỷ 15 g, sinh địa 15 g. Sắc riêng nhân sâm và cô thành 30 ml cao, sắc chung 4 dược liệu còn lại và cô thành 170 ml cao lỏng, trộn lẫn hai cao này. Mỗi lần uống 20 ml, ngày dùng 2 - 3 lần trước bữa ăn.
Sinh địa:
Sinh địa có tác dụng hạ đường máu trên động vật tiểu đường. Hoạt chất hạ đường máu là các glycosid iridoid A, B, C và D. Sinh địa cũng có tác dụng làm chậm sự phát triển biến chứng làm đục thể thủy tinh ở mắt và giảm các triệu chứng bệnh thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân tiểu đường. Sinh địa được dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong y học cổ truyền để trị tiểu đường.








