Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 23/02/2009 15:31 (GMT+7)

Ngân hàng Việt Nam và những vướng mắc về thể chế pháp lý

Những vướng mắc lớn 

Theo Điều 483, Bản cam kết Việt Nam gia nhập WTO, từ ngày 01/4/2007, các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ngoài được mở NHTM 100% vốn nước ngoài (còn gọi là ngân hàng con) tại Việt Nam, với điều kiện tính đến cuối năm trước, ngân hàng mẹ có tài sản 20 tỷ USD. NHTM nước ngoài được mở chi nhánh tại Việt Nam, ngân hàng mẹ có tổng tài sản là 10 tỷ USD và cấp vốn cho chi nhánh tại Việt Nam ít nhất 15 triệu USD; NHTM nước ngoài góp với NHTM Việt Nam để hình thành ngân hàng liên doanh, NHTM nước ngoài góp vốn không quá 50% vốn điều lệ; NHTM nước ngoài được mua cổ phần NHTM cổ phần của Việt Nam, tối đa không quá 30% vốn điều lệ. Ngày 28/2/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 22/2006/NĐ-CP để quy định chi tiết việc thực hiện nội dung nêu trên.

Tuy nhiên, khó có thể thực hiện đúng nội dung đã cam kết nêu trên thông qua một Nghị định của Chính phủ. Muốn thực hiện những điều Việt Nam cam kết gia nhập WTO, đòi hỏi Nhà nước CHXHCN Việt Nam thay đổi một số điều không còn phù hợp với thông lệ quốc tế của Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam.

Trước hết là địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá IX thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều Luật NHNN Việt Nam , nhưng không phù hợp với thông lệ quốc tế, cụ thể là:

Khoản 1, Điều 1, Luật NHNN Việt Nam, quy định: "Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Theo thông lệ quốc tế, Ngân hàng Trung ương (NHTW) hoạt động độc lập với Chính phủ, nhiệm vụ chính là ổn định giá trị tiền tệ. Chính phủ điều hành ngân sách quốc gia và không được can thiệp vào việc phát hành tiền. NHTW của nhiều nước trực thuộc Quốc hội. Ngược lại, ở nước ta, Chính phủ có Hội đồng giám sát tài chính-tiền tệ, Thống đốc NHNN chỉ là cấp phó. Do đó, khi lạm phát cao hoặc thiểu phát, không thể quy trách nhiệm cho Thống đốc NHNN Việt Nam . Hơn nữa, Thống đốc NHNN lại là một Bộ trưởng, thành viên của Chính phủ nên có trách nhiệm thực hiện những Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng, trong đó, có những vấn đề không được làm nếu Ngân hàng Nhà nước là một NHTW thực sự.

Khoản 3, Điều 34, Luật NHNN Việt Nam quy định: "Ở huyện, thị xã không phải là tỉnh lỵ, Kho bạc Nhà nước mở tài khoản tại một ngân hàng thương mại nhà nước". Quy định trên không đúng nguyên lý quản lý ngân sách nhà nước, vì NHTM nhà nước chỉ là DN nhà nước. Hơn nữa, Kho bạc Nhà nước (KBNN) gửi tiền tại NHNN, khối lượng giá trị ấy không phải là tổng phương tiện thanh toán. Ngược lại, KBNN gửi tiền NHTM nhà nước, giá trị ấy trở thành tổng phương tiện thanh toán. NHTM nhà nước có quyền dùng tiền gửi của KBNN để cho vay, gây lạm phát cao. Cuối năm 2007, KBNN gửi tiền tại các chi nhánh NHTM nhà nước: 52.700 tỷ đồng. Quỹ tiền tệ quốc tế yêu cầu sửa đổi. Bởi vậy, điểm 6, Công văn 319/TTg-KTTH ngày 3-3-2008 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: "Bộ Tài chính sớm chỉ đạo thực hiện chuyển số dư tiền gửi của Kho bạc tại các NHTM hiện nay về NHNN để bảo đảm tạo điều kiện thực hiện tốt việc điều hành chính sách tiền tệ". Nhưng, yêu cầu nêu trên tại một công văn của Thủ tướng Chính phủ không thực hiện được, vì Luật NHNN Việt Nam chưa sửa đổi. Cuối tháng 6-2008, KBNN gửi tại các chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) Việt Nam : 27.000 tỷ đồng. Điều 12, Bản cam kết Việt Nam gia nhập WTO, viết: "Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các NHTM quốc doanh, NHNN dự định sẽ cổ phần hoá hầu hết các NHTM quốc doanh cho đến năm 2010". Câu hỏi được đặt ra là, từ năm 2011, KBNN cấp huyện sẽ gửi tiền tại đâu? Khoản 1, Điều 10, Luật NHNN Việt Nam , viết: "Ngân hàng Nhà nước được tổ chức thành hệ thống tập trung, thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động tại trụ sở chính, các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương…". Do đó, bên cạnh 63 chi nhánh NHNN cấp tỉnh là 63 KBNN cấp tỉnh, gây lãng phí lớn cả về nhân lực và tiền bạc của đất nước.

Việc điều hành toàn bộ hệ thống NHTM của NHNN còn chưa hợp lý và có nhiều biểu hiện của sự lúng túng. Chẳng hạn, sau hơn 6 năm, tháng 11/2008, NHNN Việt Nam tổ chức hệ thống thanh toán liên ngân hàng đến 63 chi nhánh NHNN cấp tỉnh, bằng vốn vay của ngân hàng thế giới 145 triệu USD, sẽ là một lãng phí, vì nhiều NHTM thực hiện cơ chế ngân hàng lõi (core banking) hoặc giữa các đơn vị thanh toán khác hệ thống thực hiện cơ chế "thu, chi hộ"; cuối tháng hoặc cuối quý hai đơn vị thanh toán chỉ thanh toán với nhau phần chênh lệch; Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt của NHNN Việt Nam rất yếu. Cả nước chỉ có hơn 1,3 triệu cá nhân mở tài khoản "tiền gửi không kỳ hạn" tại các đơn vị thanh toán. Vì vậy không kiểm soát được thu nhập bằng tiền của cá nhân và pháp nhân để chống tham nhũng; chống thất thu thuế; đồng thời tăng chi phí phát hành tiền của NHNN. Từ tháng 6/2002 đến nay, NHNN điều hành lãi suất cơ bản (lãi suất cho vay) không giống một mô hình nào trên thế giới. Nói khác đi lãi suất cơ bản do NHNN công bố không có tác dụng với NHTM. Bởi vậy, lãi suất huy động vốn kỳ hạn 12 tháng của các NHTM, cao hơn lãi suất cơ bản do Thống đốc NHNN công bố; đồng thời không giúp các thành phần kinh tế mở rộng kinh doanh bằng vốn vay NHTM, vì lãi suất quá cao.   

Từ năm 2007 trở về trước, NHNN điều hành chính sách tiền tệ lỏng lẻo. Lãi suất cơ bản 8,25%/năm duy trì 25 tháng liên tục; tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc thấp, tiền gửi VND cao nhất là 5%, khiến lạm phát 12,63%/ năm 2007.

Năm 2008, NHNN thắt chính sách tiền tệ, bằng cách tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm tăng lên: 8,75%/năm; 10%/năm; 12%/năm và 14%/năm; từ tháng 10/2008 đến hết năm, NHNN hạ lãi suất cơ bản liên tục: 13%/năm; 12%/năm; 11%/năm; 10%/năm và 8,5%/năm. Tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc cao nhất đối VND: 11%, dẫn đến lạm phát năm 2008: 19,89% cao nhất kể từ năm 1992 đến nay.

Về các ngân hàng thương mại. Trước hết phải đề cập đến Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh.

Trước khi VN gia nhập WTO, nước ta có 29 chi nhánh (CN) ngân hàng nước ngoài. Sau khi VN gia nhập WTO thêm 3 CN ngân hàng nước ngoài, nâng con số lên 32. Các CN ngân hàng nước ngoài phục vụ cho các DN của nước họ đầu tư trực tiếp (FDI) vào nước ta là chủ yếu.

Đến cuối năm 2008, có 5 NHTM 100% vốn nước ngoài được cấp phép hoạt động, gồm ngân hàng ANZ vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng của Australia; Standard vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng và HSCB vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng của Vương quốc Anh; Ngân hàng Shinhan vốn điều lệ hơn 1.600 tỷ đồng của Hàn Quốc và Ngân hàng Hong Leong Bank Berhad vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng của Malaysia. Song, trong số 5 ngân hàng nêu trên chỉ có HSBC là đi vào hoạt động. Trước khi VN tham gia WTO, ở VN có 5 ngân hàng liên doanh. Sau khi gia nhập WTO không thêm ngân hàng liên doanh nào. Điều đó có nghĩa là, trên thực tế, những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO trong lĩnh vực Ngân hàng chưa đi vào thực tiễn.

Về các Ngân hàng thương mại Việt Nam . Trước khi gia nhập WTO, nước ta có 5 NHTM nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng phát triển và 35 NHTM cổ phần. Sau khi gia nhập WTO, có thêm 3 NHTM cổ phần, nâng tổng số lên 38 NHTM cổ phần, trong đó 13 NHTM cổ phần nông thôn chuyển thành NHTM cổ phần đô thị. Năm 2008, cổ phấn hoá VCB và Ngân hàng Công Thương (NHCT), nâng số NHTM cổ phần lên 40 và NHTM nhà nước chỉ còn 3.   

Trước khi gia nhâp WTO, một số NHTM mở văn phòng đại diện ở nước ngoài như: NHNo&PTNT mở văn phòng đại diện tại Campuchia; VCB mở 4 văn phòng đại diện ở nước ngoài, trong đó có: Hồng Kông, Pháp… Mỹ chưa cho các NHTM Việt Nammở văn phòng đại diện hoặc mở CN, vì Việt Nam chưa có Luật chống rửa tiền. Sau khi gia nhập WTO, ba NHTM cổ phần bán cổ phần cho 3 NHTM nước ngoài từ 15% đến 20% vốn điều lệ, gồm: ABBank, Techcombank và NHTM cổ phần Phương Nam. Cho đến nay, mới có 4/40 NHTM cổ phần niêm yết cổ phiếu tại hai sàn giao dịch chứng khoán. Bởi lẽ, NHTM cổ phần muốn niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán, phải được Thống đốc NHNN Việt Nam đồng ý bằng văn bản.

Các NHTM Việt Nam , mặc dù khá nhiều về số lượng, nhưng trước những đòi hỏi khắt khe của hội nhập kinh tế quốc tế đã bộc lộ những yếu kém rất nghiêm trọng. Có thể nêu những yếu kém chủ yếu là: Vốn tự có quá thấp (theo quy định hiện nay vốn pháp định của NHTM ít nhất phải đạt 1000 tỷ đồng); năng lực quản trị yếu, đặc biệt là quản trị rủi ro; sự liên kết giữa các NHTM quá lỏng lẻo; công nghệ thanh toán không dùng tiền mặt lạc hậu do đó không đáp ứng được yêu cầu về thời gian trong kinh doanh; dịch vụ ngân hàng còn đơn điệu.

Vài kiến nghị

Những vướng mắc lớn đã trình bày trên cho phép kết luận rằng, việc Việt Nam gia nhập WTO chưa thực sự có tác động tích cực đến hoạt động của lĩnh vực ngân hàng. Để NHNN Việt Nam chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ và các NHTM Việt Nam trụ vững khi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có lộ trình mở cửa theo cam kết với WTO ngày càng sâu sắc, toàn diện, xin có vài kiến nghị sau:

Một là, khẩn trương nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước theo hướng hình thành một Ngân hàng Trung ương thực sự đúng với thông lệ quốc tế. Chỉ khi đó, các biện pháp cần thiết để giữ vững giá trị đồng VN, chống lạm phát và điều hành chính sách tiền tệ mới thực sự phù hợp với những quy luật khách quan của kinh tế thị trường.

Hai là, cần có những biện pháp kiên quyết nhằm nâng cao hơn nữa năng lực toàn diện của các NHTM. Trước hết và quan trọng nhất là điều chỉnh tăng vốn pháp định của NHTM, đồng thời hình thành khung pháp lý đầy đủ, minh bạch, chặt chẽ đối với việc hợp nhất, sát nhập các NHTM có quy mô nhỏ thành những NHTM có quy mô lớn.

Ba là, thiết lập hệ thống thanh toán liên ngân hàng với các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt và thẻ ATM. Đây là biện pháp rất quan trọng nhằm tiết kiệm một số lượng lớn chi phí đầu tư và nâng dần tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong toàn xã hội.

Bốn là, nghiên cứu, ban hành Luật Chống rửa tiền nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động của các NHTM và tạo điều kiện để các NHTM mở rộng phạm vi kinh doanh đến các nước phát triển trên thế giới và khu vực.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.