Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 26/08/2010 22:24 (GMT+7)

Một số biện pháp kỹ thuật phát triển bền vững mô hình Tôm – Lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Mô hình tôm - lúa thích nghi với biến đổi khí hậu

Về tên gọi của mô hình này, nhiều khi chúng ta còn "cẩu thả" không dùng đúng như tên gọi của nó như là mô hình tôm - lúa hay là mô hình lúa - tôm?. Nhiều bạn đồng nghiệp của tôi ở các tỉnh có mô hình tôm - lúa phát triển mạnh đã đề nghị tôi nên gọi là mô hình tôm - lúa chứ không gọi là mô hình lúa - tôm vì sự đóng góp về mặt kinh tế cao của con tôm nói riêng trong hệ thống luân canh với lúa.

Về hiệu quả kinh tế, ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang… mô hình sản xuất ở các xã vùng tôm lúa trong những năm gần đây đang phát triển rất đa dạng với các loại hình như nuôi tôm sú, tôm càng xanh, nuôi cá, kết hợp trồng lúa, tận dụng đất bờ ao trồng màu và chăn nuôi. Mô hình này đã giúp nhiều hộ dân tăng thu nhập và cuộc sống được ổn định hơn.

Về tính thích nghi của mô hình: theo định hướng của ngành nông nghiệp thì việc xây dựng mô hình sản xuất tôm - lúa là rất phù hợp. Việc tổng kết cũng đã được khẳng định qua nhiều hội thảo. Qua đó cho thấy rằng, việc nuôi tôm, kể cả con tôm sú và tôm càng xanh luân canh trong ruộng lúa nhiều năm tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cho kết quả tốt cả về kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó yếu tố môi trường là điều rất quan trọng. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh việc trồng lúa trên đất nuôi tôm là biện pháp canh tác giúp cải tạo môi trường rất tốt. Hai đối tượng nuôi có tác động tương hỗ cho nhau có tính chu kỳ. Đây là mô hình đã được khuyến cáo nhiều năm và ngày càng khẳng định tính bền vững của nó. Con tôm sú/càng xanh nuôi trong mô hình này có khả năng đảm bảo sạch bệnh. Còn cây lúa trồng sau vụ tôm, đặc biệt là các giống lúa vừa kháng phèn, mặn và lúa mùa địa phương thích nghi tốt với mô hình nên không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều làm cho hạt có chất lượng cao và an toàn.

Sản xuất các mô hình nông nghiệp hiện nay còn đặc biệt quan tâm chú trọng đến sự thích nghi của mô hình hay hệ thống canh tác đối với biến đổi khí hậu toàn cầu. Đối với nước ta, trước những diễn biến bất thường của khí hậu ảnh hưởng lớn đến môi trường sống của con người, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế tại Việt nam (IUCN) đã đưa ra một khung chiến lược từ nay đến 2010 với chủ đề tìm kiếm sự cân bằng trong một thế giới thay đổi nhằm khắc phục tình trạng này. Theo IUCN, với bờ biển dài 3,260 km và có hai trong số những đồng bằng lớn nhất thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới dễ bị ảnh hưởng nhất bởi biến đổi khí hậu. Chỉ cần mực nước biển dâng cao 1m sẽ có khả năng ảnh hưởng tới đời sống của 10,8% dân số Việt Nam, nhất là ở đồng bằng. Nếu mực nước biển dâng cao 5m thì Việt Nam sẽ bị mất tới 16% diện tích đất đai; khoảng 35% dân số và 35% tổng sản phẩm quốc nội sẽ bị đe dọa. Đây là một vấn đề cấp thiết đối với Việt Nam . Các tác động của biến đổi khí hậu ban đầu có thể nhận thấy được thông qua những thay đổi về khí hậu theo mùa ở các vùng miền khác nhau. Lượng mưa và mùa mưa cũng sẽ thay đổi. Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của nông dân. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng gây tổn hại nhiều hơn đối với các khu vực đất ngập nước, rạn san hô, các hệ sinh thái quan trọng khác. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất lại là khi mực nước biển dâng lên. Đầu tiên là sự gia tăng tình trạng ngập lụt trong mùa mưa bão do nước biển dân lên phá vỡ hệ thống đê biển, hồ chứa nước và nhấn chìm những cánh đồng lúa ở vùng đồng bằng ven biển…. (Báo điện tử Kinh tế đô thị, 8/6/2007).

Nhiều báo cáo của các nhà khoa học cho rằng ĐBSCL chịu tác động của biến đổi khí hậu nặng nhất so với toàn quốc, khả năng xâm nhập mặn sâu vào đất liền là điều khó tránh khỏi. Theo dự báo của Viên nghiên cứu phát triển ĐBSCL, khả năng có đến 2,4 triệu ha bị nước biển xâm nhập mặn, nhiều diện tích chuyên trồng lúa 2 vụ/năm sẽ không thể sản xuất được do nước mặn tràn vào. Lúc đó, mô hình canh tác một vụ lúa, một vụ tôm là thích ứng nhất. ĐBSCL có hơn 1,4 triệu ha đất ngập nước do tác động của xâm nhập mặn. Con số này sẽ tăng lên do quá trình biến đổi khí hậu, cụ thể là nước biển dâng, xâm nhập mặn sâu vào đất liền. Khoanh vùng ngọt hóa để trữ ngọt sản xuất lúa là điều không tưởng. Chính những dòng nước mặn xâm nhập vào ruộng lúa đã tạo điều kiện cho người nông dân nuôi tôm và cũng chính họ "phát minh" ra mô hình sản xuất lúa - tôm" (Báo SGGP, 19/10/2009)

Mô hình tôm - lúa đã khẳng định tính bền vững của nó, ngoài ra gần đây trong kết hợp nghiên cứu mô hình thích nghi với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, nhiều báo cáo của các nhà khoa học còn cho rằng mô hình canh tác tôm - lúa là mô hình nông nghiệp thích nghi với biến đổi khí hậu. Tại hội thảo phát triển hệ thống canh tác lúa - tôm các tỉnh ven biển ĐBSCL tổ chức tại Sóc Trăng cuối tháng 9 năm 2009, các nhà khoa học cho rằng đây là mô hình sản xuất thích ứng với diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu và trong diễn đàn Khuyến nông @ công nghệ lần thứ 7 - 2009 chuyên đề "sản xuất luân canh tôm - lúa đồng bằng sông Cửu Long" tại Đồng Tháp ngày 2/10/2009 cũng có nhiều báo cáo đề cập đến khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu của mô hình canh tác lúa - tôm và đề xuất có khả năng mở rộng diện tích lên 200.000 ha trong những năm tới.

Một số vấn đề cần quan tâm trong canh tác mô hình tôm - lúa ở ĐBSCL

Trong sự chuyển đổi chung về cơ cấu cây trồng vật nuôi nông dân các tỉnh thuộc Bán đảo Cà Mau như Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu trong những năm gần đây canh tác rất có hiệu quả được mùa thắng lợi lớn mô hình canh tác 1 vụ lúa, 1 vụ tôm. Theo báo Nông nghiệp Việt Nam : Bây giờ nông dân vùng ven biển Bán đảo Cà Mau xem mô hình lùa - tôm là cứu cánh chính để vực lại kinh tế nông hộ. Điểm nhấn của mô hình lúa - tôm là không chỉ giúp người dân no cái bụng mà còn thu lợi nhuận cao từ một cây và một con. Hiệu quả kinh tế đã rõ nhưng việc phát triển "thần tốc" thì yếu tố bền vững đang làm đau đầu lãnh đạo địa phương.

Do thiếu quy hoạch, do nông dân tự phát chạy theo lợi nhuận và việc mở rộng quy mô nuôi tôm ồ ạt đã dẫn đến hậu quả thất bại ở nhiều nơi gần đây cần phải quan tâm đến việc quy hoạch có khoa học và chú ý về đặc điểm đất đai và môi trường. Quy hoạch vùng sản xuất lúa - tôm trên cơ sở căn cứ kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai dựa vào tiêu chuẩn của FAO chỉ nên canh tác đối với đất đai có tính thích nghi tốt. Từ đó, quy hoạch diện tích đất mô hình tôm - lúa tính đến năm 2015 và 2020 là 147.000 ha cho cả vùng ĐBSCL gồm 8 tỉnh có khả năng sản xuất mô hình tôm - lúa là Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang (Hoàng Quốc Tuấn, 2009).

Theo kế hoạch năm 2009, Bạc Liêu có khoảng 18.000 ha lúa - tôm nhưng đến nay chỉ riêng huyện Hồng Dân nông dân xuống giống 16.200 ha, huyện Phước Long con số này đã là 11.000 ha, Giá Rai 6.000 ha… trên đất nuôi tôm. Lãnh đạo Phòng Nông nghiệp huyện Hồng Dân cho biết: "Huyện chỉ quy hoạch 8.000 ha sản xuất lúa - tôm, nhưng trước lợi nhuận mà mô hình mang lại thì đã có một số diện tích chuyên tôm người dân cũng chuyển sang mô hình lúa - tôm. Đây là điều đáng mừng nhưng đó cũng là nỗi lo của địa phương sẽ vỡ hệ thống quy hoạch. Theo Sở NN&PTNT Bạc Liêu, diện tích lúa trên đất tôm năm 2009 có khả năng lên đến gần 30.000 ha, vượt kế hoạch từ 12.000 ha trở lên (Báo NNVN, 17/10/09)

Bên cạnh những thành tựu đạt được của mô hình canh tác lúa - tôm, chính quyền các huyện có mô hình tôm - lúa tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng và nhiều tỉnh ĐBSCL vẫn còn băn khoăn trước sự tự phát mở rộng diện tích của bà con nông dân do một số vấn đề lớn còn tồn tại cần khắc phục trong việc phát triển mô hình như sau:

- Hệ thống thủy lợi cho việc nuôi tôm chưa thật sự hoàn chỉnh, chủ yếu dựa vào hệ thống sông ngòi, kênh, rạch tự nhiên, phục vụ sản xuất nông nghiệp với nhiệm vụ tiêu úng, xổ phèn, ngăn mặn, giữ ngọt là chính. Sau khi có chủ trương điều chỉnh quy hoạch sản xuất theo mô hình lúa - tôm thì từ hệ thống thủy lợi phục vụ cho trồng lúa là chuyển sang sản xuất luân canh lúa - tôm với thời gian quá nhanh, diện tích quá lớn và yêu cầu đầu tư quá cao, làm cho hệ thống thủy lợi hiện tại không còn phù hợp với thực tế, không đáp ứng được yêu cầu cấp, thoát nước cho sản xuất ở cả hệ sinh thái mặn, ngọt và mặn - ngọt đan xen. (Trường Văn, 2005).

- Dịch bệnh bùng phát gây thất thu và do chất lượng con giống không đảm bảo: theo UBND tỉnh Bạc Liêu, năm 2008, bệnh tôm bùng phát mạnh trong tháng 02 và tháng 03, tập trung chủ yếu ở khu vực huyện Phước Long, Hồng Dân, Đông Hải và liên tục phát sinh ở những tháng còn lại trong năm; diện tích bị nhiễm bệnh xảy ra ở tất cả hình thức nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp, nuôi tôm quảng canh cải tiến, nuôi tôm quảng canh cải tiến kết hợp và tôm - lúa; tổng diện tích bị thiệt hại 22.000 ha (diện tích thiệt hại > 50%; 8.070 ha, trong đó nuôi công nghiệp và bán công nghiệp 980 ha); đối tượng gây hại chủ yếu là bệnh đốm trắng, đầu vàng; tổng diện tích được khắc phục 18.050 ha. Nguyên nhân chính là do hệ thống cung cấp nước mặn cho các khu vực này chưa đạt yêu cầu, thời tiết nắng nóng, công trình nuôi không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, mức nước ao quá thấp làm cho môi trường nuôi biến động mạnh, chất lượng tôm giống không đảm bảo, một bộ phận người dân thiếu kiến thức và kinh nghiệm nuôi tôm…, dẫn đến tôm nuôi bị dịch bệnh và bùng phát trên diện rộng. (UBND tỉnh Bạc Liêu, 12/8/09)

- Chạy theo lợi nhuận con tôm không quan tâm tính bền vững của mô hình lúa - tôm dẫn đến thất bại: Khảo sát của Donna và Trần Thanh Bé (Trần Thanh Bé, 2009) cho thấy rằng sau những thất bại khi chuyển sang tôm chuyên canh do chạy theo lợi nhuận mà bỏ canh tác lúa, nông dân các huyện Mỹ Xuyên và Giá Rai đã trở lại với hệ thống lúa - tôm (1 vụ lúa + 1-2 vụ tôm sú với mật độ thích hợp từ 5 - 7 con/m 2) cho thu nhập cao và bền vững hơn chỉ chuyên canh lúa hoặc tôm.

- Việc chạy theo lợi nhuận con tôm đã làm phá vỡ tính bền vững của mô hình cũng nhận thấy ở Sóc Trăng. Theo số liệu mới nhất của ngành nông nghiệp Sóc Trăng thì những hộ nuôi tôm sau khi thu hoạch vụ tôm chính vụ lại thả ngay tôm sú vụ 2 đều bị thiệt hại. Trong số diện tích trên 4.520 ha, diện tích thiệt hại chiếm tới 2.676 ha (chiếm gần 60% diện tích vụ 2). Đây là điều mà ngành nông nghiệp lo ngại và đã khuyến cáo người dân không nuôi tôm trái vụ từ nhiều năm nay, nhưng gần như đã trở thành thông lệ, tôm chính vụ có giá thì sau đó vụ 2 diện tích sẽ tăng mạnh và … tổn thất nặng. Không những diện tích thiệt hại lớn mà cả cây lúa trên vùng đất nuôi tôm cũng lại lỗi hẹn trước sức hấp dẫn về lợi nhuận của con tôm… Đó là chưa kế đến việc xuống giống không đồng loạt sẽ rất khó khăn cho công tác phòng chống dịch hại, đặc biệt rầy nâu. Riêng huyện Mỹ Xuyên, dù có khả năng đạt 12.000 ha lúa Đông Xuân theo chỉ tiêu phấn đâu, nhưng theo ông Lương Minh Quyết, PCT UBND huyện thì Mỹ Xuyên sẽ cố gắng hoàn thành kế hoạch xuống giống 10 ngàn ha lúa vụ này để giữ vững là địa bàn trọng điểm mô hình tôm - lúa của tỉnh. (www.mekongdelta.com.vn).

Những vấn đề kỹ thuật cần quan tâm phát triển mô hình tôm - lúa

- Cần giữ vững tính bền vững liên hoàn của mô hình tôm - lúa, không chạy theo lợi nhuận con tôm cho dù được giá bán tôm quá cao mà phá bỏ mô hình hoặc thả tôm quá dày không theo khuyến cáo mật độ thả thưa, phù hợp.

- Mô hình canh tác tôm - lúa hiện nay lệ thuộc thời tiết quá nhiều nên những năm ít mưa mức độ thiệt hại về diện tích lúa bị mất trắng và số diện tích bị thiệt hại quá cao.

- Các huyện ở phía Nam Quốc lộ 1A tỉnh Bạc Liêu hiện đang nuôi tôm nước lợ quảng canh cải tiến trên nền đất mặn trung bình, mặn nhiều, phèn tiềm nông (Sp1), phèn hoạt động nông (Sj1), khi thả tôm giống nước nước đầm có độ mặn lớn hơn 15% và thiếu nước ngọt thì không nên sản xuất lúa trên đất nuôi tôm vì rất dễ gặp rủi ro cao (Hoàng Quốc Tuấn, 2009).

- Cần quy hoạch vùng tôm - lúa căn cứ kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và xét sự thích nghi theo khuyến cáo của FAO.

- Đến đầu mùa mưa, tranh thủ các đợt mưa lớn tiến hành bơm tát rửa mặn. Kinh nghiệm cho thấy việc rửa mặn tôm nuôi vẫn không bị ảnh hưởng. Khi độ mặn xuống thấp thì giữ nước ở các đợt mưa tiếp theo để nuôi tôm.

- Đến thời điểm tháng 8 dương lịch khi nước ngọt ngoài sông ổn định, nông dân nên theo dõi dự báo khí tượng thời tiết đón các trận mưa và tiến hành bơm tát nước rửa mặn và tiến hành ngâm ủ giống gieo sạ ngay.

- Trong trường hợp xuống giống gặp phải các trận mưa thì cây lúa phát triển tốt, dễ chăm sóc, ít tốn phân thuốc… ngược lại nếu ít mưa hoặc nắng nóng thì cây lúa cần chăm sóc nhiều hơn. Lúc này nếu sau ba ngày xuống giống mà không mưa thì tiến hành bơm tát nước rửa mặn và chăm sóc bón phân trong vòng 10 ngày không có mưa giúp cho cây lúa vượt qua thời điểm khó khăn và sau đó phục hồi tốt.

- Chủ động rửa mặn ngay từ những trận mưa lớn đầu mùa, khi độ mặn xuống thấp lại tiếp tục thả tôm nuôi.

- Đến thời điểm xuống giống lúa mặt đất ruộng phải được tháo cạn, phơi khô sau đó lấy nước vào ngâm đất khoảng 15 ngày để đất có nhựa bùn tiền hành sạ giống. Giống phải được ngâm ủ có mông tốt. Sau một đêm xuống giống, mặt đất ruộng phải được tháo khô để đón mưa tiếp tục rửa mặn.

- Đối với lúa cấy việc rửa mặn cũng như lúa sạ, tuy nhiên trước khi cấy mạ cần được nhổ giâm 2 đêm có rễ nhú sau đó tiến hành cấy (không cấy sâu vì cấy sâu rễ ngập độ mặn trong đất ảnh hưởng phát triển cây lúa).

- Mùa vụ tập trung từ tháng 8 đến cuối tháng 9, đối với gieo mạ cấy (lúa mùa - Một bụi đỏ… gieo mạ trên bờ từ đầu tháng 6 đến tháng 7 dương lịch, tuổi mạ 45 - 60 ngày. Tập trung cấy từ tháng 8 đến tháng 9 dương lịch cho giống Một bụi đỏ và các giống lúa mùa khác.

- Về kỹ thuật canh tác cần phổ biến và áp dụng đúng quy trình riêng cho mô hình sản xuất tôm - lúa. Trong đó đối với lúa mùa (Một bụi đỏ và các giống khác) cần bón lót khoảng 80 kg/ha phân hữu cơ vi sinh, hạn chế phân hóa học. Công thức phân hóa học bón thúc các đợt cho lúa mùa khoảng 40 n - 30 P­ 2O 5- 10 K 2O (kg/ha).

- Chú ý về bảo vệ thực vật cho lúa trong đất nuôi tôm cần sử dụng các loại thuốc sinh học và các loại thuốc được khuyến cáo không độc hại cho tôm, cá như sau: Rầy nâu: Applaud, Actara, sâu đục thân: Regent, Padan, các loại sâu lá: Vertimec, Dipel, bệnh đạo ôn: Fuji one, Kasai, bệnh đốm vằn: Rovral, Validamycin…

- Về giống lúa áp dụng trong mô hình lúa tôm cần chú ý áp dụng các giống đã qua nghiên cứu và khuyến cáo là có khả năng chịu mặn tốt như sau:

+ Nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ có khuyến cáo các giống lúa sau đây tỏ ra phù hợp cho cả hai chân ruộng lúa - tôm và lúa chuyên canh ở Giá Rai và Mỹ Xuyên trong năm 1997, 1998: MTL 119, MTL 205 và MTL 207. Trong đó, giống MTL 119 cho năng suất vượt trội giống đối chứng IR 64.

+ Giống AS 996 chống chịu mặn tốt, các giống ST3, ST5 được nông dân sản xuất lúa - tôm chấp nhận.

+ Tại Bạc Liêu và Cà Mau giới thiệu các giống Một bụi đỏ, Tép hành…

+ Trung tâm Khuyến nông và Khuyến ngư Cà Mau giới thiệu các giống sau:

* Giống lúa cao sản ngắn ngày năng suất cao chất lượng thấp gieo sạ cho vùng khó khăn, nhiễm mặn nhiều như: Lúa lai B - TE1, OM 576, OM1490…

* Nhóm giống lúa cao sản ngắn ngày cho năng suất, chất lượng cao cho những vùng lúa - tôm tương đối thuận lợi như: AS 996, OM 4900, OM 2717, ST5, OM4498…

* Nhóm giống lúa mùa dài ngày, năng suất trung bình, chất lượng cao, bố trí sản xuất ở những vùng điều kiện đất nhiễm mặn ít, chậm mặn, vùng ngập sâu: Một bụi cỏ, Thần nông gốc tím, Trắng tròn, Lùn Kiên Giang. Ngoài ra báo cáo kinh nghiệm các xã nuôi tôm ở Cà Mau còn khuyến cáo các giống lúa mùa như: Tép hành, Một bụi cỏ, Thần nông gốc tím Trái mây, Nàng Quớt… Trong đó Một bụi đỏ muộn hơn một tuần nhưng năng suất cao hơn.

- Về mật độ thả tôm, những nghiên cứu của các nhà khoa học gần đây đi đến khuyến cáo mật độ gia tăng đến trên 10 con/m 2là không phù hợp với mô hình lúa - tôm, thường thất bại hơn và không cho thu nhập cao và bền vững so với mật độ 5 - 7 con/m 2.

- Về quản lý dịch bệnh: Thực hiện công tác phân tích bệnh tôm và kết hợp với các thông tin về khí hậu, thời tiết, chất lượng nước mặn… để dự báo, dự tính, thông báo kịp thời dịch bệnh trên tôm nuôi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Theo dõi diễn biến tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi, thống kê diện tích bị thiệt hại, hướng dẫn nông, ngư dân xử lý tôm nuôi bị bệnh và khắc phục thiệt hại. Phối hợp với Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tuyên truyền, tập huấn cho người nuôi các biện pháp kỹ thuật nuôi, phòng trị bệnh tôm, biện pháp xử lý tôm bị thiệt hại v.v...

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.