Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 29/04/2011 19:42 (GMT+7)

Mãng cầu Bà Đen: các yếu tố địa lý tự nhiên và kỹ thuật canh tác đặc thù để có sản phẩm quanh năm trên thị trường trái cây cả nước

Kết quả điều tra khảo sát trong các năm 2007 - 2009 từ các vựa thu mua và hộ nhà vườn sản xuất mãng cầu Bà Đen, cho thấy diễn biến về sản lượng mãng cầu giữa các tháng trong năm như sau: Sản lượng mãng cầu Bà Đen cao nhất vào tháng 8 - 9 dương lịch với hơn 3.444 - 3.690 tấn/tháng, sản lượng mãng cầu dịp Tết Nguyên Đán trong các tháng 01 - 02 dương lịch vào khoảng 2.952 - 3.198 tấn/tháng và sản lượng mãng cầu thấp nhất trong các tháng 3 - 5 dương lịch cũng đạt từ 739 - 984 tấn/tháng.

Điều kiện địa lý tự nhiên và kỹ thuật canh tác của các hộ nhà vườn khu vực núi Bà Đen có đặc thù riêng nào mà mãng cầu Bà Đen lại có thể rải mùa vụ, tháng nào cũng có sản phẩm mãng cầu bán trên thị trường?

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu các loài cây trong nhóm Na (Mãng cầu) có đặc tính chung gì khi đến thời kỳ sinh trưởng sinh sản? Có thể khai thác mãng cầu trái vụ được không? Cần phải có các yếu tố thời tiết, môi trường và kỹ thuật canh tác như thế nào?

Qua khảo sát thực tế tại các vùng trồng na/mãng cầu trên cả nước nhằm nghiên cứu môi trường sinh thái và thực tiễn canh tác. Cùng với việc tham khảo sách báo, tài liệu nước ngoài về các nhóm giống mãng cầu, các đặc tính thực vật học, kỹ thuật canh tác mãng cầu. Chúng ta có thể xác định mối quan hệ mật thiết giữa yếu tố địa lý tự nhiên, kỹ thuật canh tác với các đặc tính thực vật học và chất lượng đặc thù của sản phẩm mãng cầu Bà Đen:

+ Mãng cầu là loài cây sinh trưởng ở vùng sinh thái nhiệt đới, cây than gỗ nhỡ, cao từ 2 - 6 m, cây cho trái sau khi trồng khoảng 2,5 - 3 năm. Tuổi cây có thể khai thác khoảng 10 năm, thời gian từ khi cây mãng cầu ra hoa, thụ phấn đậu trái đến khi trái mãng cầu ra hoa, thụ phấn đậu trái đến khi trái mãng cầu chín khoảng 4 tháng hay 120±2 ngày.

+ Khi chuyển từ thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh sản, cây mãng cầu cần nhiệt độ thấp khoảng 25 0C trở xuống, dưới 20 0C cây ngừng sinh trưởng, tích luỹ chất carbohydrate kích thích ra hoa, nếu tỷ lệ đạm (N) cao cây khó ra hoa. Tỷ lệ Carbohydrate/nitrogen (C/N) nội sinh cao cần thiết cho sự ra hoa. Nếu nền nhiệt cao, cây có thể vẫn xanh tốt nhưng ít ra hoa đậu trái mà dân gian quen gọi là thất mùa. Cây cũng có thể cho mùa vụ cách năm và như vậy không có hiệu quả kinh tế.

+ Mãng cầu chịu hạn khá nhưng trong thời kỳ cây ra hoa kết trái, giai đoạn cây nuôi trái cần phải đủ nước, nếu thiếu nước, cây mãng cầu sẽ rụng hoa và trái non. Tuy nhiên, do bộ rễ mãng cầu vốn yếu hơn các loại cây ăn quả khác lâu năm hơn như nhãn, vải, bộ rễ hút lại ăn nông chỉ khoảng 20 - 40 cm, nếu bị ngập úng khoảng 7 - 10 ngày là cây có thể chết. Đây là lý do ta thường thấy mãng cầu chủ yếu phát triển ở vùng bán sơn địa thoát nước tốt, hơn là nơi hay bị ngập lụt vùng đồng bằng châu thổ của hệ thống sông Hồng hay sông Mê Kông.

+ Khi cây ngừng sinh trưởng và chuyển sang giai đoạn sinh sản, cây mãng cầu còn cần quang kỳ với cường độ ánh sáng thấp hay nói cách khác là phải có thời gian tối, đêm dài hơn thời gian mặt trời chiếu sáng ban ngày. Trong thời kỳ ra hoa, độ ẩm không khí trên 80% giúp cho hoa không bị khô héo, thuận lợi cho côn trùng thụ phấn cho hoa. Ẩm độ cao giúp cho việc lưu dẫn dịch chát trong các mô nuôi quả dễ dàng và cây không bị rụng trái non.

+ Các cây trong chi Na trong một vụ hoa có thể ra thành nhiều đợt, đỉnh sinh sản của cây cũng không là sự tiếp nối với đỉnh sinh trưởng nên mãng cầu, bình bát, mãng cầu gai không ra hoa kết trái thành chùm ở đỉnh ngọn như các cây trong họ Bồ Hòn là nhãn, vải, chôm chôm mà thường là ra hoa đơn hoặc chùm hoa 2 - 4 bông trên cành, khuất trong tán hay mọc trên thân như mãng cầu gai. Hoa mãng cầu thuộc loại lưỡng tính và nhị đực thường chính trước khi nhuỵ cái, khả năng giao phấn giữa các hoa là phổ biến. nếu trong một vườn có nhiều dòng mãng cầu khác nhau thì chất lượng trái trên cùng một cây cũng khác nhau. Cánh hoa chúc xuống và thường chỉ mở hé nên ít có khả năng thụ phấn nhờ gió, đài hoa không có tuyến mật nên cũng không thu hút ong, bướm. Việc thụ phấn tự nhiên cho hoa chủ yếu dựa vào côn trùng dùng cánh hoa mãng cầu làm nơi sinh sản, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều ăn cánh hoa, trong trường hợp của hoa mãng cầu Bà Đen thì tác nhân thụ phấn là loài bọ Vòi voi mà người dân địa phương hay gọi là con bọ nhảy.

+ Với các cây nhóm mãng cầu khi hội đủ chất dinh dưỡng, thời gian ra hoa trong một mùa vụ có thể kéo dài đến khoảng hai tháng, khi lứa quả đầu sắp thu hoạch thì lứa quả sau mới tượng hình. Nếu gặp thời tiết bất lợi kéo dài, độ ẩm thấp dưới 70%, hanh khô, nền nhiệt cao hơn 35 0C thì hoa có thể bị héo đen và rụng. Nền nhiệt thấp hơn 15 0C thì cây ngừng cả sinh trưởng và sinh sản. Nếu nhiệt độ thấp hơn 10 0C kéo dài có thể chết cành hoặc chết cây. Đây chính là lý do mà ở ngoài các tỉnh phía Bắc không có na trái vụ vào mùa đông.

+ Cây mãng cầu tích luỹ dưỡng chất từ rễ kết hợp bộ lá quang hợp đầy đủ sẽ chuyển sang thời kỳ sinh sản với hiện tượng phân hóa mầm hoa, ra hoa kết trái, khi trái chính, bộ lá mãng cầu già rụng và cây vào giai đoạn ngủ nghỉ. Chukỳ tự nhiên này có thể tái diễn trong cùng một năm nếu hội đủ các điều kiện ngoại cảnh, môi trường phù hợp. Đây là cơ sở để các hộ nhà vườn khu vực núi Bà Đen kết hợp kỹ thuật canh tác với các điều kiện địa lý vùng núi Bà Đen - Tây Ninh để cho cây mãng cầu Bà Đen ra hoa kết trái cho thu hoạch quanh năm.

Trên cơ sở nghiên cứu tập tính trong thời kỳ sinh trưởng sinh sản của cây mãng cầu, chúng ta thấy các điều kiện địa lý khí hậu tự nhiên ở khu vực núi Bà Đen, Tây Ninh đáp ứng được các yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây mãng cầu:

+ Quanh khu vực núi Bà Đen luôn có khí hậu ôn hoà, ngày nhiều nắng nhưng nắng cũng không quá gắt. Nhiệt độ trung bình trong ngày là 27,2 0C. Ban ngày có trung bình khoảng 7 giờ nắng mỗi ngày với nhiệt độ tối cao trung bình 32,8 0C. Quang chy kỳ này ở khu vực núi Bà Đen bảo đảm cho hoa mãng cầu phát triển, phát dục tốt, bộ lá quang hợp đầy đủ tích lũy dưỡng chất nuôi trái.

+ Là vùng núi, thời gian tối ở khu vực núi Bà Đen khoảng từ mười đến mười hai giờ tuỳ theo tiết Hạ chí hay Đông chí. Đêm kéo dài, nhiệt độ thấp kích thích hoặc thúc đẩy sự ra hoa, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng là 23,7 0C. Vào đầu mùa khô tuy không có mưa nhưng nhiệt dộ ban đêm vẫn thấp do ảnh hưởng của các khối không khí lạnh từ phía Bắc tràn vào. Các tháng mười hai và tháng một, thậm chí ban đêm nhiệt độ thường dưới 20 0C. Độ ẩm tối cao trung bình tháng là 90% lại gặp nhiệt độ thấp nên hầu như ngày nào cũng có sương. Đêm về sáng trời nhiều sương, có khi thậm chí đến 6 - 7 giờ sáng, sương vẫn phủ quanh núi Bà Đen từ chân lên đỉnh núi. Trong 5 tháng cuối mùa mưa đầu mùa khô, độ ẩm tối cao trung bình từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau của vùng núi Bà Đen cũng đạt trên 83%. Đây là điều kiện lý tưởng cho sự phân hoá mầm hoa của mãng cầu ở vùng này vào mùa khô.

+ Biên độ chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khu vực núi Bà khoảng 8 - 10 0C với sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa trong năm khoảng 1,5 - 3 0C. Sự ổn định về khí hậu của nhiều mùa trong năm là cơ sở để mãng cầu Bà Đen có thể ra hoa kết trái quanh năm không phụ thuộc vào mùa vụ.

+ Tỉnh Tây Ninh có lượng mưa trung bình hàng năm khá cao từ 1.600 - 2.400 mm tập trung chủ yếu vào mùa mưa ( tháng 5 đến tháng 11) với trung bình 120 - 140 ngày mưa/năm với trị số trung bình 200 - 300 mm/tháng. Nhưng ở vùng núi Bà Đen do có độ cao trung bình 40 - 50 mét so với mực nước biển, đất pha cát thoát thuỷ tốt, độ dốc trung bình 30 - 50 nên hầu như các vườn mãng cầu đều không bị ngập úng, vùng đất thấp ven chân núi khi thiết kế vườn đều được liên tiếp, đào rãnh thoát nước. Khu vực núi Bà Đen nằm sâu trong đất liền nên ít chịu ảnh hưởng của gió bão, lốc xoáy. Vào mùa khô, trời tuy ít mưa, số giờ nắng bình quân cao hơn các tháng mùa mưa từ 1 - 2 giờ mỗi ngày. Nhưng với hệ thống kênh rạch và nguồn nước ngầm được chi phối ổn định bởi hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng. Các hộ trồng mãng cầu có thể tưới nước liên tục trong mùa khô với mật độ 3 - 7/tuần.

Các đặc trưng về kỹ thuật canh tác của các hộ nhà vườn trồng mãng cầu Bà Đen:

+ Để sản xuất mãng cầu trái vụ, sau khi thu hoạch vụ chính, cần phải rút ngắn thời gian nghỉ dưỡng, phá vỡ hiện tượng ngủ nghỉ sinh học (còn gọi là miên trạng) tự nhiên của cây, để cây bước vào chu kỳ sinh sản mới bằng việc tạo ra một thời gian thiếu nước, sự khô hạn có thời hạn làm cho cây phân hoá mầm hoa. Vì vậy khi làm vụ nghịch cần cắt nước cho cây từ bảy đến mười bảy.

+ Mãng cầu là loài cây thay lá khi vào thời kỳ sinh trưởng sinh sản. Để làm mãng cầu trái vụ, các hộ nhà vườn thường kết hợp cắt nước với tuốt bỏ toàn bộ lá mãng cầu sau khi dưỡng lá cho già lá. Việc cung cấp nước trở lại và tuốt lá, cung cấp đầy đủ phân bón dưỡng chất kích thích cây phân hoá mầm hoa.

+ Các hộ nhà vườn trồng mãng cầu ở khu vực núi Bà Đen có thể canh tác một năm hai vụ cho kết quả cao từ 7 - 12 tấn quả/vụ do trong vụ nghịch tuy số lượng hoa ít hơn vụ chính nhưng tỉ lệ đậu trái tương đương nhau với khoảng 7 - 11% trên tổng số hoa. Một cây mãng cầu chỉ để khoảng từ 50 - 70 trái sẽ cho số lượng trái loại 1 - 2 ( từ 3 - 5 trái/kg) nhiều hơn và đem lại giá trị kinh tế cao hơn.

+ Tại khu vực núi Bà Đen và vùng phụ cận, với vài ngàn héc ta chuyên canh mãng cầu, lúc nào chúng ta cũng có thể thấy có vườn mãng cầu mới trồng, vườn 1 -3 năm tuổi đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, vườn 4 - 9 tuổi đã cho trái ổn định. Chúng ta cũng có thể thấy trong cùng một thời điểm, có vườn đang tuốt lá, vườn đang tuốt lá đang nhú chồi non, vườn đang ra hoa, vườn đậu trái một tháng, hai tháng, vườn đang thu hoạch.

+ Việc sử dụng phân bón với đa số hộ dùng phân hữu cơ là phân bò bón lót khi trồng, phân bò bón thúc 10 - 20 kg/cây/năm khi cây tăng trưởng, ra hoa, nuôi trái, dưỡng cây. Theo niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh thì trong nhiều năm qua Tây Ninh là một trong những tỉnh có chăn nuôi bò với tổng đàn lớn nhất nước, tổng đàn bò ở Tây Ninh là hơn 120.000 - 140.000 con, đây chính là một trong những nguồn cung cấp phân bón dồi dào cho các loại cây trong đó có mãng cầu.

+ Ủ quanh gốc mãng cầu bằng các loài cây họ đậu cũng là một kinh nghiệm quý của bà con nông dân ở đây. Dây lạc (đậu phộng) sau thu hoạch được cắt, ủ quanh gốc mãng cầu, số lượng nhiều hay ít tuỳ theo khả năng kinh tế, vừa có tác dụng giữ ẩm, vừa cung cấp thêm chất bón cho cây. Ở Tây Ninh, theo niên giám thống kê thì diện tích trồng lạc (đậu phộng) hàng năm thường khoảng hơn 20.000 héc ta, với sản lượng lạc vỏ là hơn 70.000 tấn. Như vậy, sản lượng thân dây cây họ đậu này cũng phải hàng trăm ngàn tấn. Điều đó chúng ta dễ nhận thấy khi có nhiều nhà vườn vùng núi Bà Đen thường dùng thân dây lạc ủ quanh gốc mãng cầu.

+ Khu vực núi Bà Đen được Nhà nước xây dựng hệ thống điện lưới và đường giao thông phủ kín vùng. Để cung cấp nước tưới nhất là trong mùa khô cho mãng cầu, các vườn đều có giếng đào hoặc giếng khoan, ngoài việc kéo ống tưới tràn trên gốc mãng cầu, nhiều nhà vườn đã thiết kế ống nước chìm theo luống, tuỳ theo tuổi vườn và độ cao cây mà gắn béc phun cao hơn tán cây mãng cầu trong vườn, tưới như trời mưa. Bảo đảm nhu cầu nước cho mãng cầu trong thời kỳ ra hoa, kết trái vào mùa khô thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa kỹ thuật canh tác hiện đại và điều kiện thuỷ lợi ở địa phương của các nhà vườn vùng núi Bà Đen.

Việc bà con nông dân quanh chân núi Bà Đen chọn thời vụ canh tác, xử lý ra hoa vào các tháng khác nhau để trái mãng cầu có quanh năm do canh tác mãng cầu rải vụ cho thu nhập cao vì trên thị trường, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc không có na trái vụ. Trái mãng cầu thường được dùng khi cúng bái, lễ tết nên ở nước ta, mãng cầu thường được chọn để bày bàn thờ, thăm bệnh, làm quà cho người thân.

Cây mãng cầu có mặt ở hầu hết các tỉnh thành trên đất nước ta từ Bắc vào Nam, nơi trồng tập trung chuyên canh, nơi trồng xen với nhiều loại cây ăn quả khác, có nơi chỉ trồng vài cây quanh nhà cho có "cây nhà lá vườn". Tuy nhiên do các yếu tố thời tiết, do môi trường, nguồn cung cấp nước mà không phải nơi nào cũng canh tác được mãng cầu trái vụ và rải vụ. Nhưng với vùng Bà Đen của tỉnh Tây Ninh, cây mãng cầu đã tìm được quê hương mới của mình. Với các điều kiện địa lý, khí hậu, đất đai phù hợp, có nguồn phân hữu cơ từ chăn nuôi bò và nguồn phân xanh từ thân dây cây họ đậu, được các hộ nhà vườn chăm sóc với kỹ thuật canh tác hiện đại theo hướng phát triển bền vững. Quan trọng hơn nữa là chính quyền và nhân dân Tây Ninh đã sớm nhìn thấy "con gà đẻ trứng vàng" của tỉnh và có những định hướng đầu tư hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ cho các hộ nhà vườn, xây dựng thương hiệu Mãng cầu Bà Đen,…. để phát huy hiệu quả kinh tế của mãng cầu cũng như nâng cao đời sống của bà con nông dân.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng