Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 03/11/2008 21:55 (GMT+7)

Loại trừ các chất HCFC ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức trong 15 năm tới

Loại trừ các chất nhóm CFC

Chỉ còn hơn 1 năm nữa (đến cuối năm 2009), 191 quốc gia thành viên Nghị định thư Montreal sẽ hoàn tất việc loại trừ hoàn toàn các chất làm suy giảm tầng ô-zôn nhóm CFC. Được công nhận là một điều ước quốc tế về môi trường thành công nhất với sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Nghị định thư, tính đến năm 2008, các nước tham gia Nghị định thư Montreal (kể cả các nước phát triển và đang phát triển) đã loại trừ được 95% lượng tiêu thụ các chất thuộc nhóm CFC trên toàn cầu. Hầu hết các chất làm suy giảm tầng ô-zôn là các khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao gấp hàng nghìn lần khí CO 2. Việc thực hiện thành công Nghị định thư Montreal trong hơn 20 năm qua đã góp một phần không nhỏ vào cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu của trái đất. Loại trừ hoàn toàn các chất nhóm CFC bị kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal , cộng đồng quốc tế đã góp giảm phát thải 25 tỷ tấn CO 2 tương đương.

Từ năm 1995 đến 1997, Việt Nam tiêu thụ gần 500 tấn các chất CFC/năm. Trong 14 năm qua, kể từ khi gia nhập Nghị định thư Montreal (năm 1994) đến năm 2007 nước tachỉ còn nhập khẩu và sử dụng gần 40 tấn CFC; năm 2009 chỉ cho phép nhập khẩu và sử dụng 10 tấn CFC và từ ngày 1.1.2010 nước ta sẽ chấm dứt việc nhập khẩu và sử dụng các chất CFC. Cộng đồng quốc tế đãđánh giá cao các thành quả của Việt Namtrong việc thực hiện Nghị định thư Montrealvà khẳng định, Việt Namđã tuân thủ đầy đủ các cam kết quốc tế của Nhà nước trong khuôn khổ Nghị định thư Montreal.

Đạt được kết quả này là nhờ các biện pháp, chính sách mạnh của Chính phủ; sự nỗ lực của Bộ Tài nguyên và Môi trường - cơ quan được Chính phủ giao chủ trì thực hiệnNghị định thư Montreal, các bộ/ngành, các doanh nghiệp liên quan; sự hỗ trợ về tài chính và công nghệ của Quỹ Đa phương thi hành Nghị định thư Montreal do các nước phát triển đóng góp, trong đó nướcta đã nhận được hỗ trợ tài chính trên 7 triệu USD trong qua trình loại trừ các chất thuộc nhóm CFC.

Tiến tới loại trừ các chất HCFC

Kết thúc giai đoạn loại trừ các chất nhóm CFC, các nước thành viên Nghị định thư Montreal bắt đầu bước vào giai đoạn loại trừ các chất nhóm HCFC với nhiều thách thức mới và có thể kéo dài trong vòng 15 năm tới. Lộ trình loại trừ các chất HCFC đã được đẩy nhanh hơn so với các quy định ban đầu, theo đó, các nước đang phát triển (trong đó có nước ta), sẽ phải loại trừ hoàn toàn việc sử dụng HCFC vào năm 2030 với các mức hạn chế sử dụng như sau: Năm 2013: Ngưng mức tiêu thụ HCFC ở mức cơ sở là trung bình của 2 năm 2009-2010; năm 2015: Giảm 10% mức tiêu thụ HCFC theo mức cơ sở; năm 2020: Giảm 35% mức tiêu thụ HCFC theo mức cơ sở; năm 2025: Giảm 67,5% mức tiêu thụ HCFC theo mức cơ sở; năm 2030-2040: Được sử dụng 2,5% mức cơ sở cho dịch vụ sửa chữa. Lượng tiêu thụ các chất HCFC tăng lên nhanh chóng trong vòng 5 năm qua ở tất cả các nước đang phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực làm lạnh và điều hoà không khí trong khi các chất thay thế đang gặp nhiều hạn chế về công nghệ và giá thành.

Các chất HCFC được sử dụng ở nước ta chủ yếu trong lĩnh vực làm lạnh, điều hoà không khí (R-22 và R-123); sản xuất xốp (R-141b), trong đó lượng R-22 dùng trong làmlạnh và điều hoà không khí tăng trung bình 200 tấn/năm trong vòng 5 năm gần đây và xu thế tăng có thể tiếp tục duy trì trong vòng 3 năm tới. Mức tăng trưởng của ngành công nghiệp làm lạnh và điều hoàkhông khí với lượng tiêu thụ các chất HCFC tăng nhanh liên tục đã đặt ra nhiều thách thức cho tiến trình loại trừ HCFC ở nước ta, trong đó tập trung ở các khó khăn chính sau: Lượng tiêu thụ HCFCtăng, nếu không có chuyển đổi công nghệ nhanh chóng sẽ dẫn đến chi phí lớn cho việc loại trừ; Đến nay vẫn chưa có chất thay thế lý tưởng cho các chất HCFC. Các chất thay thế không làm suy giảm tầngô-zôn được Nghị định thư Montreal khuyến khích sử dụng lại là các chất có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao (như R-410a, R-134a) và một số chất lại bị kiểm soát bởi Nghị định thư Kyoto của Công ướcvề Biến đổi khí hậu hoặc không an toàn cho con người; Giá thành của các chất thay thế còn quá cao so với điều kiện kinh tế của các nước đang phát triển; Chuyển đổi công nghệ đòi hỏi chi phí cao vàthời gian chuyển đổi quá dài, thường là 10-15 năm; Để loại trừ hoàn toàn tiêu thụ các chất HCFC ở nước ta, theo ước tính của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới và các chuyên gia trong nước, trong vòng15 năm tới, nước ta cần ít nhất 15 triệu USD. Các nước phát triển duy trì cam kết đóng góp cho Quỹ Đa phương thi hành Nghị định thư Montreal để hỗ trợ tài chính và công nghệ cho các nước đang pháttriển loại trừ các chất HCFC. Tuy nhiên, để nhận hỗ trợ tài chính và công nghệ này, các nước phải tuân thủ đầy đủ các quy định của Nghị định thư và có kế hoạch hành động cụ thể cho việc loại trừHCFC, trong đó, phải có các biện pháp chính sách mạnh của Chính phủ.

Để từng bước triển khai thực hiện cam kết quốc tế của Nhà nước trong khuôn khổ Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang triển khai kế hoạch tổng điều tra lượng và lĩnh vực sử dụng các chất HCFC và phối hợp với các tổ chức quốc tế xây dựng các chương trình, dự án vận động tài trợ quốc tế cho việc loại trừ HCFC ở nước ta. Sự chỉ đạo mạnh mẽ, sát sao của Chính phủ cùng với sự phối hợp và hợp tác chặt chẽ của các bộ/ngành, các doanh nghiệp liên quan sẽ là một bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện thành công Nghị định thư Montreal ở Việt Nam.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.