Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 14/02/2011 19:24 (GMT+7)

Lịch sử Việt Nam qua Thanh sử cảo

Thanh sử quán do Triệu Nhĩ Tốn làm Quán trưởng, trước sau có hơn 200 người tham gia biên soạn, bắt đầu làm việc từ 1914, đến 1927 thì hoàn thành bản thảo, trải qua 14 năm. Tuy sách này hoàn thành sau Cách mạng Tân hợi, nhưng những người biên soạn vẫn đứng trên lập trường của triều Thanh để viết sử nhà Thanh. Vì do nhiều người viết chung, đối chiếu chưa hết, sau khi bản thảo hoàn thành lại chưa từng khảo đính chi tiết, lúc in ấn hiệu đính so sánh cũng không cẩn thận, vì thế quy cách không thống nhất, chỗ chi tiết chỗ đại lược không tương xứng, tới nỗi năm tháng, sự kiện, nhân danh, địa danh sai lầm nhan nhản. Người biên soạn cũng hiểu rõ những khiếm khuyết, nên đã chỉ ra trong lời Phát san chuyết ngôn, sách này chỉ là bản thảo lịch sử in ra, “ đạithể chỉ là mở đường đi trước, chứ hoàn toàn không coi là sách đã hoàn chỉnh”. Sách này in ra lần đầu tiên năm 1928, do Viên Kim Khởi chủ trì, Kim Lương lo việc in ấn, in tất cả 1.100 bộ, trong đó có 400 bộ do Kim Lương chở lên vùng Đông Bắc Trung Quốc phát hành, số này được gọi là “ Bản Quan ngoại in lần thứ nhất ”. Về sau người trong Thanh sử quán phát hiện ra Kim Lương tự ý sửa đổi nội dung nguyên cảo, họ không đồng ý với sự thêm bớt ấy, vì thế sửa chữa in lại số sách còn lại ở Bắc Kinh, số này được gọi là “ Bản Quan nội ”. Sau khi Nhật Bản xâm lược chiếm đóng vùng Đông Bắc, sách này được in lần nữa năm 1934, bỏ đi 6 quyển Thời hiến chí và quyển Công chúa biểu – Tự, chỉ còn 529 quyển, đây là bản in vẫn được gọi là “ Bản Quan ngoại in lần thứ hai ”. Nhiều bản in ở Hương Cảng, Đài Loan, Nhật Bản trước và sau 1949 là theo ba bản này. Sau 1949 các nhà sử học Trung Quốc sử dụng cả ba bản này để hiệu đính sửa chữa, do Trung Hoa thư cục xuất bản lần đầu năm 1977. Bài viết này là dựa trên cơ sở bản Trung Hoa thư cục in lần thứ hai, Bắc Kinh, 2003.

Ngoài những tư liệu rải rác trong phần Bản kỷ ghi chép về các vua nhà Thanh và trong phần Liệt truyện ghi chép về các nhân vật có liên quan như Tôn Sĩ Nghị, Lưu Vĩnh Phúc..., phần lịch sử Việt Nam trong Thanh sử cảo được ghi chép tập trung trong quyển 527, Liệt truyện 374, Thuộc quốc 2, Việt Nam. Nguyên tác Thanh sử cảo ghi chép về Việt Nam đã có nhiều sai lạc, ấn bản nói trên cũng có thể có sai sót, tuy nhiên đối với việc tìm hiểu lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII – XIX thì đây vẫn là một trong những tư liệu tham khảo rất bổ ích.

Khác với Tống sử, Minh sử có ghi chép về Chiêm Thành và quan hệ của quốc gia này với Đại Việt, Thanh sử cảo mặc nhiên thừa nhận Việt Nam như một quốc gia thống nhất từ trước thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Đoạn chép về Tây Sơn năm Càn Long thứ 51 (1786) cho thấy điều này:

“Năm thứ 51 (1786) họ Nguyễn ở An Nam gây biến. Đầu tiên là trong niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh, An Nam quốc vương Lê Duy Đàm phục quốc, thật ra nhờ sức bề tôi là họ Trịnh họ Nguyễn, vì thế nối đời làm Tả Hữu Phụ chính. Về sau Hữu Phụ chính nhân con côi của họ Nguyễn còn nhỏ, kiêm luôn chức Tả Phụ chính để chuyên quyền, mà đẩy họ Nguyễn ra Thuận Hóa, gọi là Quảng Nam vương. Nguyễn Trịnh nhiều đời thù hận đem quân đánh nhau. Đến đời Lê Duy Đoan (tức Lê Hiển tông) quyền hành càng dời xuống người dưới, gần như chỉ còn là kẻ giữ phủ mà thôi. Phụ chính Trịnh Đống (tức Trịnh Sâm) lại giết chết Thái tử, chiếm giữ ấn vàng, muốn cướp ngôi vua nhưng sợ Quảng Nam cường thịnh, bèn dụ dỗ thổ tù ở đó là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cùng đánh, diệt Quảng Nam vương ở Phú Xuân. Nguyễn Huệ (đúng ra là Nguyễn Nhạc) tự làm Thái Đức vương, Trịnh Đống tự làm Trịnh Tĩnh vuơng, thế lực ngang nhau, Duy Đoan không biết làm sao”.

Cũng dễ thấy rằng sự hiểu biết của chính giới và học giới Trung Quốc thời Thanh về lịch sử Việt Nam ở Đàng Trong trước thế kỷ XIX nhìn chung rất ít ỏi và nhiều sai lạc – chẳng hạn Thanh Văn hiến thông khảo từng chép Hà Tiên thời Mạc Thiên Tích là “ nước Cảng Khẩu” (Cảng Khẩu quốc) cũng như gọi Mạc Thiên Tích là vua, và Thanh sử cảo cũng không ngoài thông lệ đó. Đoạn tóm tắt về nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh sau đây là một ví dụ tiêu biểu:

“Lúc đầu Nguyễn Quang Bình (tức Nguyễn Huệ) đã đánh diệt Quảng Nam vương Nguyễn Mỗ, Nguyễn Mỗ là con rể vua Lê, vợ là Lê thị có mang, trốn vào Nông Nại, Nông Nại là đô thành cũ của Thủy Chân Lạp, tức tỉnh Gia Định, nay là Tây Cống. Lê thị sinh con là Nguyễn Phước Ánh, vốn tên là Chủng, lẩn trốn trong dân gian. Đến khi lớn lên, chạy qua Xiêm La. Vua Xiêm La vốn có thù với Nguyễn Quang Bình, bèn gả em gái cho Phước Ánh, giúp cho quân sĩ, đánh hạ Nông Nại, chiếm cứ đất ấy, thế lực mạnh dần, gọi là họ Nguyễn cũ, mà gọi cha con Nguyễn Quang Bình là họ Nguyễn mới, cũng gọi là Nguyễn Tây Sơn. Họ Nguyễn cũ lấy tiếng phục thù chiếm đô thành cũ là Phú Xuân, lúc ấy là năm Gia Khánh thứ 4 (1799) ”.

Cần nói thêm rằng những tên gọi Nông Nại (tức Đồng Nai), Tây Cống (tức Sài Gòn) cũng chỉ bắt đầu phổ biến ở Trung Quốc từ thế kỷ XIX trở đi, vì như Trịnh Hoài Đức từng viết trong phần nguyên chú bài Sứ hành tự thuật trong Cấn Trai thi tập in năm 1819, lúc ông tới Hồ Nam trên đường đi sứ năm 1803, viên Tuần phủ Hồ Nam Cao Kỷ vẫn còn rất lạ lùng về vùng đất Nam Bộ được người Việt mở mang từ cuối thế kỷ XVII : “Cái tên Nông Nại, từ cổ chưa từng nghe...” (Nông Nại chi danh, cổ vô văn kiến). Nhưng ngay trong những sai sót nói trên về sử liệu, người ta cũng có thể thấy được nhiều vấn đề lịch sử và sử học, bởi vì ngay với cả những sự kiện lịch sử và địa lý Việt Nam từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX sờ sờ như thế mà người Trung Quốc đương thời còn không nắm vững, thì khó mà tin rằng họ có được những chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình ở nhiều nơi trên biển Đông trong đó có các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cũng có thể nêu ra những sai lạc do suy diễn kiểu võ đoán rất buồn cười như về niên hiệu Gia Long của các tác giả Thanh sử cảo: “Nguyễn Phước Ánh được nước, chủ yếu nhờ binh lực ở Vĩnh Long, Gia Định, bèn lấy tên hai tỉnh làm niên hiệu, gọi là Gia Long ”, vì vào năm 1802 thì Việt Nam chưa có đơn vị hành chính “tỉnh”, và càng chưa có cái gọi là tỉnh Vĩnh Long!

Tuy nhiên, là một bộ sử được biên soạn trên cơ sở những tư liệu trong văn khố hoàng gia triềuThanh, Thanh sử cảo cũng cung cấp một số tư liệu có ích cho việc tìm hiểu lịch sử Việt Nam. Đặc biệt sau khi Việt Namthống nhất trở lại năm 1802, những tư liệu về Việt Nam trong Thanh sử cảo cũng đầyđủ, chính xác và thống nhất hơn. Chẳng hạn kết hợp với các sử sách Trung Quốc như Việt Nam tập lược, Trung Pháp Việt Nam giao thiệp đáng, Trung Pháp chiến tranh, những tư liệu như tờ Nghĩ trần Dươngvụ sớ báo cáo về việc Pháp đánh Việt Nam của Quách Tụng Đào trong Biên sự tục sao của Chu Khắc Kính (in năm Quang Tự Canh thìn - 1880) và cả những bức tranh như Tuyên Quang hợp vi đồ, Lâm Thao đạitiệp đồ mô tả các trận quân Thanh đánh thắng quân Pháp trong Tây lâm cung bảo huân đức giới phúc đồ của Trần Lam Khanh, Dương Dư Đồn (in năm Quang Tự thứ 16 - 1890)..., những ghi chép về việc quânThanh kéo qua miền Bắc Việt Nam giúp đỡ triều đình nhà Nguyễn chống Pháp cuối thế kỷ XIX trong Thanh sử cảo có thể cung cấp một bức tranh toàn cảnh chính xác và có hệ thống hơn nhiều so với Đại NamThực lục của nhà Nguyễn. Dĩ nhiên chẳng phải nhà Thanh có ý tốt gì với Việt Nam mà thật ra chỉ dùng cuộc chiến tranh ấy gây sức ép với Pháp để giải quyết các vấn đề đối ngoại của họ. Thanh sử cảo cònchép việc viên Chủ sự Đường Cảnh Tung thuộc sứ bộ Lý Hồng Chương trong Hòa ước Thiên Tân xin qua Việt Nam chiêu dụ Lưu Vĩnh Phúc, tháng 1 năm Quang Tự thứ 9 (1883) tới Vân Nam, đầu tiên tới QuảngĐông, ra mắt Tăng Quốc Thuyên, tán tụng hòa nghị, được tư cho vào Việt Nam. Khi gặp Vĩnh Phúc, Cảnh Tung đưa ra ba kế sách, nói “Việt Nam bị Pháp bức bách, mất nước chỉ là chuyện trong sớm tối, rấtnên nhân việc Bảo Thắng truyền hịch để định các tỉnh, xin mệnh với Trung Quốc, lấy đó làm danh nghĩa, việc thành ắt làm vua Việt Nam, đó là thượng sách. Hai là đem toàn quân đánh Hà Nội, đuổi ngườiPháp đi, Trung Quốc ắt sẽ giúp quân lương, đó là trung sách. Còn nếu ngồi giữ Bảo Thắng, thất bại về hàng Trung Quốc, đó là hạ sách”. Vĩnh Phúc nói “Tôi sức không đủ theo thượng sách, cố theo trungsách vậy”, đủ thấy đối với Việt Nam , quan lại trí thức Trung Quốc đương thời cũng có không ít người rắp tâm nhân lúc láng giềng cháy nhà mà hôi của. Đoạn ghi chép về sự chấm dứt mối quan hệ banggiao Nguyễn Thanh năm 1885 sau đây lại càng khiến người ta thấm thía về số phận của các quốc gia nhỏ yếu trên bàn cờ kinh tế và chính trị của các thế lực quốc tế, một thực tế lịch sử đáng buồn nhưngdường như vẫn kéo dài đến tận hôm nay:

“Ngày 9 tháng 1 năm Quang Tự thứ 11 (1885), quân Pháp đánh Trấn Nam quan, bắn vỡ cửa quan rồi đi (...). Ngày 13 tháng 2 chiếm lại Lạng Sơn, quân Pháp đều tháo chạy. Phùng Tử Tài tiến quân đánh Lạp Mộc, đánh ép vào Lang Giáp, Vương Hiếu Kỳ tiến quân tới Quý Môn quan, lấy lại được hết vùng biên giới năm trước. Dân Việt Nam lập ra năm đại đoàn Trung nghĩa hơn hai vạn người, đều dùng cờ xí của quân Phùng. Tây Cống cũng nghe tiếng liên lạc, từ khi thông hải đến nay, Trung Quốc đánh nhau với nước ngoài chỉ có trận này là thắng lớn, là công của Tử Tài vậy.

Quân Pháp 6.000 người xâm phạm phủ Lâm Thao rồi chia làm hai cánh, một đánh lên Kha Lĩnh, An Bình phía bắc, một đánh xuống Miến Vượng, Mãnh La phía nam. Tổng đốc Vân Nam Sầm Dục Anh sai bọn Sầm Dục Bảo, Lý Ứng Trân chặn cánh phía bắc, Vương Văn Sơn chặn cánh phía nam, đích thân đốc suất trung quân tiến đánh, đều thu toàn thắng. Quân Pháp bèn rút về họp quân ở phủ Lâm Thao, quân Vân Nam chặn đánh ở hai phía nam bắc vòng lại giáp công, chém năm viên tướng Pháp trên trận, quân Pháp tan vỡ.

Lúc bấy giờ chiến hạm quân Pháp đang chiếm đóng Bành Hồ ở Đài Loan. Sau trận Lạng Sơn, người Pháp ra sức nhờ người Anh Hách Đức làm trung gian điều đình với Lý Hồng Chương, nói người Pháp trả lại Cơ Long, Bành Hồ, đôi bên cùng triệt quân, không đòi bồi thường chiến phí. Hồng Chương tâu nói : “Bành Hồ đã mất, Đài Loan ắt không giữ được, nên nhân trận thắng ở Lạng Sơn giảng hòa thì người Pháp không đến nỗi lại có đòi hỏi khác”. Triều đình theo lời ấy, lập tức ra lệnh đình chiến. Trận Lâm Thao là xảy ra sau khi có lệnh đình chiến nhưng điện văn truyền lệnh chưa tới. Hồng Chương bèn ký hòa ước, ra lệnh cho các tướng rút về biên giới, tướng sĩ đều nắm tay phẫn hận, không chịu trở về, Bành Ngọc Lân, Trương Chi Động nhiều lần gửi điện văn tranh cãi. Vua cho rằng không thể làm trái Hòa ước Thiên Tân, ban dụ nghiêm khắc bắt phải tuân lệnh. Người Pháp đòi đuổi Lưu Vĩnh Phúc ra khỏi Việt Nam, Trương Chi Động bèn sai Vĩnh Phúc về Ân Châu, Khâm Châu nhưng Vĩnh Phúc kiên quyết không chịu, Đường Cảnh Tung dùng lời lẽ xảo trá uy hiếp, triều đình ban dụ chỉ nghiêm khắc bắt phải tuân lệnh, Vĩnh Phúc mới miễn cưỡng về Quảng Đông, được trao chức Tổng binh. Phùng Tử Tài thì được lệnh đốc suất việc biên phòng ở Liêm Châu, Khâm Châu. Hòa ước đã thành, Việt Nam bèn do nước Pháp bảo hộ ”.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.