Làng cổ Cự Đà
Làng Cự Đà nằm bên dòng sông Nhuệ, cách Trung tâm Hà Nội khoảng 35 km về phía Đông - Nam . Con sông này một thời tấp nập thuyền bè chuyên chở hàng hoá như gạo, muối, bông, vải tới các thị trấn, thị tứ và trung tâm buôn bán quanh vùng như Phố Hiến (Hưng Yên ngày nay), Hà Đông… Hiện bờ sông của làng còn lưu lại hai bến thuyền có bậc đá lên xuống và hai con cóc đá để làm cột buộc thuyền.
Thời cực thịnh của Cự Đà là từ đầu thé kỷ 18 đến cuối thế kỷ 19. Suốt gần một thế kỷ, con sông Nhuệ đoạn qua làng gần như ngày nào cũng tập nập tàu bè qua lại, chuyên chở gỗ, vải, thóc, gạo, muối… Và dần dần trong làng mọc lên nhiều ngôi nhà mới, khang trang, bề thế. Lúc đầu, người dân làm nhà theo kiều truyền thống, sau này, do đi buôn bán ở nhiều nơi, một số chuyển sang xây dựng kiểu Pháp.
Vì vậy mà bên cạnh những ngôi nhà cổ thuần Việt, trong làng còn có những ngôi biệt thự mang phong cách kiến trúc Pháp ngót 100 tuổi. Bây giờ, tường, gạch, cổng, sân đều đã phong rêu, nhưng nhiều ngôi nhà vẫn còn nguyên với những đường phù điêu, hoạ tiết phương Tây đắp nổi, những hoa văn trên tường trong nhà, nền gạch hoa làm bắng đá ghép mảnh nhỏ.
Hiện nay, cả làng còn lại khoảng gần hai trăm nhà cổ và nhà kiểu Pháp, trong đó có khoảng 60 nhà cổ vẫn còn nguyên vẹn. Ở những ngôi nhà này, từ trước tới giờ, con cháu không ai thay đổi gì, ngoại trừ một vài năm lại đảo ngói một lần cho đỡ dột.
Hầu hết những ngôi nhà cổ ở Cự Đà đều thấp mái và sâu lòng nên mùa hè rất mát, mùa đông ấm. Để dựng được một ngôi nhà như vậy thông thường phải cần đến 2 - 3 thợ có tay nghề cao và làm việc liên tục ít nhất một năm. Tất cả các nét kiến trúc mang đậm phong cách thời Nguyễn với kết cấu gỗ là chủ yếu. Trên xà, cột, vách gỗ đều có những nét trạm khắc rất tinh vi. Chính giữa ngôi nhà là bàn thờ tổ tiên với hoành phi câu đối. Tất cả đã mòn và bạc màu theo thời gian, nhưng bằng kinh nghiệm của mình, những người dân nơi đây cho biết, các ngôi nhà cổ ở Cự Đà có thể sử dụng thêm được ít nhất một thế kỷ nữa.
Được dựng từ năm 1874 và hoàn toàn bằng gỗ xoan, một loại gỗ không phải là tốt trong các loại gỗ, ngôi nhà của cụ Định Thị Quyến vẫn còn nguyên vẹn và chắc chắn. Trong khi nhiều hộ bất đắc dĩ phải dỡ bỏ những ngôi nhà cổ của mình vì nhu cầu ở ngày một lớn, thì cụ Quyến, dù cũng ở trong hoàn cảnh như vậy, vẫn quyết tâm giữ lại ngôi nhà cổ của mình.
Chỉ mấy năm thôi mà số nhà cổ ở Cự Đà giảm đi nhanh chóng hoặc nếu còn thì cũng bị thay đổi một vài phần. Nếu những năm 80 của thế kỷ trước, số nhà cổ nguyên bản còn khoảng 90% thì nay chỉ còn 30%.
Cái cổ của làng còn ở ngôi chùa đã được xếp hạng Di tích Quốc gia. Chùa có tên là Linh Minh Tự, còn nguyên cột đá “cây hương” ghi lại năm trùng tu chùa là Chính Hoà thời Hậu Lê, 1695.
Những tưởng niên đại xây chùa và niên đại lập làng có lẽ khoảng 500 – 600 năm đổ lại. Nhưng phát hiện khảo cổ học ngay trong đầu xuân Đinh Hợi đã kéo dài tuổi của làng Việt cổ Cự Đà lên đến khoảng 2000 năm.
Đó là việc đào được những viên gạch có hoa văn đắp nổi hình ô trám, hình đồng tiền, gạch múi bưởi được xếp từng hàng lớp khi tu sửa nền chùa đã phát hiện ra. Những viên gạch đặc trưng này là của các ngôi mộ thời Bắc thuộc cách đây hai mươi thế kỷ.
Thêm nữa đầu làng còn có một gò cao tên gọi là Đống Già, được các nhà khảo cổ cho rằng đấy chính là một ngôi mộ gạch thời Bắc thuộc khá lớn. Phát hiện khảo cổ đã cho thấy làng đã được hình thành thuộc loại sớm nhất vùng và những nơi có mộ gạch như vậy thường là những trung tâm kinh tế, xã hội sầm uất một thời.
Miếu và đình làng cũng được xếp hạng Di tích Quốc gia. Đáng chú ý nơi đây còn có di tích đàn tế bằng đá xanh mà người dân vẫn gọi là đàn Xã Tắc thuộc loại đẹp nhất nước.
Nghề truyền thống của người Cự Đà là buôn bán và dệt kim.
Những cơ sở, xưởng dệt của làng Cự Đà đã hình thành nên phố Hàng Quạt (Hà Nội), một trong 36 phố phường Hà Nội cổ. Cái tên nhà doanh nghiệp Cự Gioanh, người đã khai sinh ra con phố này, những người Hà Nội sống đến nửa đầu thế kỷ 20 không thể không biết đến.
Bây giờ người dân Cự Đà chuyển sang làm nhiều nghề phụ khác như làm tương, miến. Dân số ngày càng sinh sôi, diện tích trong làng ngày càng thu hẹp cho người ở, cho cơ sở sản xuất, nhiều ngôi nhà, cả nhà cổ lẫn biệt thự kiểu Pháp đã bị sửa đổi hoặc bị phá dỡ hoàn toàn. Hy vọng, thời gian tới, người dân nơi đây có thể phát triển du lịch từ những ngôi nhà cổ còn lại như ở Hội An.








