Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 14/03/2012 21:13 (GMT+7)

Khử mặn nước biển – giải pháp đáp ứng nhu cầu nước ngọt?

Trong khi hạn hán, thiên tai và sự phân bố độ ẩm trên quy mô lớn thay đổi bởi biến đổi khí hậu thì nhu cầu nước của nhân loại lại tăng lên từng ngày. Mỗi năm, dân số toàn cầu tăng thêm 85 triệu người, nhưng nhu cầu nước ngọt lại tăng gấp đôi tốc độ tăng dân số, và cứ sau 20 năm hoặc lâu hơn lại tăng gấp đôi một lần. Trên khắp thế giới, nguồn tài nguyên thiết yếu nhất của chúng ta cùng lúc phải chịu áp lực từ nhiều phía: ô nhiễm, xây đập thủy điện, hệ sinh thái ven sông và đất ngập nước bị phá hủy, nguồn nước ngầm suy giảm, cùng với những thay đổi bất lợi do biến đổi khí hậu mang lại. 

Tại Mỹ, quốc gia lớn trên thế giới, nhu cầu về nước đã vượt quá cung. Dự kiến, trong 3 năm tới, 36 bang của Mỹ sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu nước. Xét trên phạm vi toàn cầu, trong 15 năm tới, sẽ có gần 2 tỉ người phải sống ở các khu vực khan hiếm nước. Sự khan hiếm nước đó sẽ làm tình trạng biến đổi khí hậu tồi tệ hơn. Trên thực tế, khả năng cung cấp và phân phối nước đang là đề tài được thảo luận rộng rãi như một nhân tố quyết định đến sự ổn định của toàn cầu trong tương lai.

Khử mặn nước biển – không phải điều mới mẻ

Vậy tại sao chúng ta không thể biến nước biển thành nước uống? Thực sự thì chúng ta có thể và chúng ta đang làm. Việc biến nước biển thành nước uống đã được thực hiện ít nhất từ thời Hy Lạp cổ đại. Nhưng áp dụng trên quy mô địa phương và quốc gia đã được lịch sử chứng minh là rất tốn kém, đặc biệt là khi so sánh với việc khai thác các nguồn nước ngọt trong nước và khu vực. Tuy nhiên, khi công nghệ hiện đại có thể giúp giảm chi phí và khi nguồn nước ngọt tiếp tục trở nên khan hiếm thì nhiều thành phố đang tìm cách chuyển đổi nước biển và xem đó như một phương thức để đáp ứng nhu cầu thiết yếu hiện nay.

Việc khử mặn đã xuất hiện từ 2.400 năm về trước, khi con người biết chủ động đun sôi nước muối để thu hơi nước. Nó đã hình thành nên phương pháp chưng cất ngày nay. Về cơ bản, chưng cất là việc con người bắt chước những gì xảy ra trong tự nhiên, theo đó, nước được làm nóng, bốc hơi thành hơi nước, để lại muối và các tạp chất. Hơi nước ngưng tụ ngay khi nguội và rơi xuống trở thành nước ngọt. Các nhà máy chưng cất ngày càng được nâng cấp, tuy nhiên phương pháp này vẫn bị đánh giá là tốn kém năng lượng.

Một phương pháp khác cũng được sử dụng là phương pháp khử mặn bằng công nghệ RO (thẩm thấu ngược), tức dùng áp lực để đẩy nước qua các màng lọc, loại bỏ các chất khác ở cấp độ phân tử. Phương pháp này được phát triển vào những năm 1960 và trở nên khả thi về mặt thương mại trong thập niên 70, cuối cùng đã thay thế phương pháp chưng cất và được sử dụng trong hầu hết các thiết bị khử mặn mới, một phần vì nó đòi hỏi ít năng lượng hơn.

Ngoài việc loại bỏ muối, cả hai phương pháp trên đều loại bỏ gần như toàn bộ các chất khoáng, các hợp chất hóa học hữu cơ cũng như sinh học, đem lại nguồn nước sạch và an toàn.

Ngày nay thế giới có khoảng 8.000 nhà máy khử mặn nước biển bằng công nghệ RO, với công suất khoảng 10 tỷ gallon (37.854.117 m 3) nước ngọt mỗi ngày. Dù vậy, số lượng các nhà máy chưng cất cũ tồn tại từ trước vẫn nhiều hơn so với các nhà máy RO. 

Các nước chiết xuất nước ngọt từ nước biển nhiều nhất trên thế giới gồm: Vương quốc Ả rập – Xê út, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Mỹ, Tây Ban Nha, Cô – oét và Nhật Bản. Trong đó, nước ngọt nhờ khử mặn cung cấp đến 70 % nước uống cho Ả rập – Xê út. Tại Mỹ, các bang Florida, California, Texasvà Virginia cũng là những nơi sử dụng nhiều phương pháp này. Ước tính toàn bộ nước Mỹ có khả năng khử mặn hơn 1,4 tỷ gallon (5.600.000 m 3) nước mỗi ngày. Con số này được kỳ vọng chiếm xấp xỉ 0,01% tổng lượng nước cung cấp cho các thành phố và ngành công nghiệp trên toàn nước Mỹ.

Các tàu biển, tàu ngầm và tàu chiến đã sử dụng phương pháp khử mặn trong nhiều thập kỷ nay. Điển hình là con tàu mang hiệu U.S.S Carl Vinson của Mỹ , nó có thể tạo ra 400.000 gallon (1.514 m 3) nước ngọt mỗi ngày.

Những trở ngại chính

Việc khử mặn tuy đã được áp dụng nhiều, nhưng vẫn chỉ là “muối bỏ bể” so với nhu cầu thực tế. Theo tính toán, chi phí làm sạch nước biển trong thời gian gần đây vẫn cao hơn 5 đến 10 lần so với việc lấy nước ngọt từ các nguồn nước truyền thống. Sự xuất hiện của các bộ lọc RO, tuy đã có từ lâu nhưng cũng chỉ giúp giảm được một nửa chi phí so với 10 – 15 năm về trước. Vì thế, các chi phí vận chuyển, năng lượng và yếu tố môi trường hiện đang là những trở ngại chính cho việc khử mặn trên quy mô lớn, chứ không phải yếu tố công nghệ như khi xưa.

Năng lượng dành cho việc khử mặn chiếm khá nhiều, khoảng 1/3 tổng chi phí. Điều này khiến việc khử mặn ngay tại chính những nhà máy ở khu vực ven biển cũng rất tốn kém, chưa kể tới quy trình xử lý các sản phẩm phụ – một loại dung dịch muối đậm đặc.

Liệu khử mặn có phải là một giải pháp kinh tế? Câu trả lời có lẽ phụ thuộc vào mức độ khan hiếm nước cụ thể ở mỗi địa phương. Bởi nếu so với chi phí cao và sự khó khăn để mua nước ngọt hay cải tạo nước ngọt thì khử mặn sẽ là một lựa chọn tốt. Việc khử mặn để tạo ra nước ngọt vì vậy vẫn sẽ là giải pháp được đặt kỳ vọng trong những năm tới.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.
Hải Phòng: Chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sáng 26/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố (Liên hiệp hội) Hải Phòng phối hợp với Hội Điện tử và Tin học thành phố, Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Duyên hải Bắc Bộ (VCCI Duyên hải Bắc Bộ) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Hải Phòng thông qua chuyển đổi số toàn diện”.
Sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm Cụm thi đua các tỉnh Trung du và Đồng bằng sông Hồng
Chiều ngày 17/6/2026, tại khu du lịch Hải Tiến, tỉnh Thanh Hóa, Cụm thi đua các tỉnh Trung du và Đồng bằng sông Hồng thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức hội nghị Sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm 2026; triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Liên hiệp Hội Việt Nam thúc đẩy các hoạt động khoa học công nghệ tại Hải Phòng
Sáng 18/6/2026, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng, Đoàn công tác của Liên hiệp Hội Việt Nam do PGS.TS Phạm Quang Thao, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Uỷ ban MTTQ Việt Nam thành phố, một số sở ngành và Liên hiệp Hội thành phố Hải Phòng.