Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 25/06/2009 18:58 (GMT+7)

Khả năng khai thác hầm lò ở mỏ đồng Sin Quyền - Các vấn đề quan tâm giải quyết

Theo thiết kế kỹ thuật, mỏ được khai thác bằng phương pháp lộ thiên trong 19 năm đầu với khối lượng quặng 22 triệu tấn; phần khai thác lộ thiên kết thúc ở mức -80, Trữ lượng còn lại, một phần nằm ở trụ bảo vệ suối, phần còn lại sẽ được khai thác bằng phương pháp hầm lò trong thời gian 20 năm sau. Phương pháp khai thác hỗn hợp giữa lộ thiên và hầm lò đã được áp dụng khá phổ biến ở nước ngoài, nhất là đối với các khoáng sàng dốc đứng và chiều sâu phân bố lớn. Riêng ở Việt Nam , phương pháp này mới chỉ được đề cập trong một dự án quy hoạch khai thác mỏ. Vấn đề khai thác hầm lò sau khi kết thúc khai thác lộ thiên ở mỏ đồng Sin Quyền cũng mới chỉ được đề cập rất sơ bộ trong Báo cáo nghiên cứu khả thi. Hiện chưa có nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa khai thác lộ thiên và hầm lò nên chưa xây dựng được kế hoạch khai thác dài hạn, chưa có giải pháp tổng thể để giữ ổn định công suất và sản lượng khai thác, chưa có giải pháp kỹ thuật để đảm bảo an toàn trong khai thác hầm lò dưới moong lộ thiên. Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng khai thác triệt để tài nguyên. Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi nêu một số vấn đề có liên quan đến khả năng khai thác hầm lò dưới mỏ lộ thiên ở mỏ đồng Sin Quyền.

1. Điều kiện tự nhiên của mỏ đồng Sin Quyền

Mỏ đồng Sin Quyền là một phần đới quặng Sin Quyền có nguồn gốc nhiệt dịch, chiều dài khoảng 4.000 m, rộng khoảng 800 m, gồm 17 thân quặng, trong đó có 6 thân quặng chủ yếu là 1, 1a, 2, 3, 4 và 7, có trữ lượng chiếm 96,52% tổng trữ lượng toàn mỏ. Hình thái thân quặng dạng mạch, dạng thấu kính, dạng túi. Các thân quặng chủ yếu phân bố trong đá biến chất trao đổi và đá gơnai boitit, có độ cứng f = 8 - 11 nằm gần như song song với nhau, được duy trì theo chiều sâu, lớn nhất là -350 m (thân quặng 3). Quy mô của thân quặng tương đối lớn, chiều dày tương đối ổn định từ 3,5 - 14m. Góc cắm của các thân quặng 82 0C, gần như thẳng đứng.

Cấu tạo quặng gốc (quặng sunfua) gồm dạng dải, dạng xâm nhiễm, dạng cục đặc xít, dạng dăm kết, dạng mạch nhỏ và dạng mạng mạch. Thành phần có ích của quặng có Cu, Au, Ag, Fe, S, đất hiếm… Đá vây quanh chủ yếu của thân quặng là đá gơnai biotiti bị migmatit hoá, nằm ở bên phần rìa thân quặng và trong thân quặng, đá vỡ vụn, không ổn định. Chiều dày đới đá biến chất trao đổi chứa quặng khá lớn, từ 0,5 - 100m, đá gốc ổn định. Đá horblendit chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ, đá đặc xít, khá rắn chắc. Đá phiến thạch anh xerixit cách thân quặng tương đối xa, nhưng là đá chủ yếu hình thành bờ dốc cuối cùng.

Vùng mỏ ở đới núi thấp ven sông Hồng, cách sông Hồng 500 - 1000m, độ cao tuyệt đối từ +100 đến + 400m. Lượng mưa trung bình hàng năm vùng 1.798 mm, lượng mưa ngày lớn nhất 212 mm. Suối Ngòi Phát là suối lớn nhất khu mỏ, chạy cắt ngang, chia mỏ thành 2 khu: khu Đông và khu Tây, lưu lượng lớn nhất đạt 300 m3/s; mực nước bình thường là +85 đến +87m, những ngày mưa lũ lớn, nước suối dâng lên tới mức +97m.

Tầng chứa nước đá phiến xerixit, đá phiến thạch anh paleozoi phân bố ở Đông Bắc vùng mỏ. Đa số lỗ khoan đã gặp nước áp lực. Chiều dày đới phong hoá 110 – 120 m, hệ số thẩm thấu 0,7 - 2,0 m/ngđ, chứa nước phong phú.

Vùng lân cận thân quặng hình thành đới chứa nước, có thể nằm gần như trùng hợp với thân quặng. Theo đường phương thân quặng, tầng chứa nước giảm từ Bắc xuống Nam, sâu nhất có thể đạt tới -200m và sâu hơn, hệ số thẩm thấu 0,01 - 0,904 m/ngđ, lớn nhất là 2,806 m/ngđ. Lượng nước chảy vào khai trường lộ thiên theo tính toán của Công ty Cổ phần hữu hạn Xây dựng Kim loại màu Trung Quốc (NFC) mùa mưa là 7.000 m3/ ngđ, mùa lũ lớn nhất tới 33.500 m3/ngđ.

2. Điều kiện khai thác hầm lò mỏ đồng Sin Quyền

Từ trước năm 1975 đã có nhiều công trình nghiên cứu về điều kiện khai thác và phương pháp khai thác mỏ đồng Sin Quyền (nghiên cứu của các viện CHDC Đức và Bungari). Các báo cáo kinh tế - kỹ thuật khai thác trong thời kỳ này chọn phương pháp khai thác hầm lò. Trong thiết kế sơ bộ do Viện NIPRORUDA (Bungari) lập năm 1979, công tác khai thác được tiến hành bằng phương pháp hầm lò, giai đoạn 1 khai thông bằng lò bằng, giai đoạn 2 bằng giếng đứng, độ sâu kết thúc khai thác hầm lò ở mức -350. Công suất khai thác là 2 triệu tấn quặng/ năm.

Khả năng khai thác hầm lò như đã đề cập trong “báo cáo nghiên cứu khả thi Tổ hợp đồng Sin Quyền Lào Cai” do NFC lập năm 2000 là tới mức -350 khu Đông và -50 khu Tây. Tuy nhiên, Báo cáo không đưa ra tính toán cụ thể mà chỉ có lưu ý là giai đoạn khai thác hầm lò cần được nghiên cứu trong một dự án khác.

Trong “Dự án khai thác mở rộng và nâng công suất mỏ đồng Sin Quyền” do Công ty Tư vấn đầu tư Mỏ và Công nghiệp - TKV đã đưa ra xem xét 2 phương án:

- So sánh khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò;

- Khai thác tối đa bằng phương pháp lộ thiên.

Kết quả tính toán cho thấy, khi so sánh khai thác lộ thiên với khai thác hầm lò thì biên giới kết thúc khai thác mỏ lộ thiên hợp lý ở mức -152m, tổng khối lượng quặng khai thác 33,8 triệu tấn sau khi đã nắn suối Ngòi Phát về phia Tây để khai thác quặng ở trụ bảo vệ suối.

Tuy nhiên, khi khai thác lộ thiên khu Đông tới mức -152m cần phải để lại trụ bảo vệ giữa đáy khai trường lộ thiên và các công trình hầm lò tối thiểu là 100 m. (Theo các nhà khoa học CHLB Nga khi khai thác hầm lò dưới hồ nước thì trụ bảo vệ có chiều dày H = 20 - 40Sm vớiSm là tổng chiều dày của các vỉa được khai thác hầm lò - chỉ dẫn ghi trong thuyết minh Dự án). Khi đó trữ lượng quặng còn lại dưới mức 252 m rất khó khai thác. Hay nói cách khác, nếu chỉ khi kết thúc khai thác lộ thiên mới chuyển sang khai thác hầm lò thì khả năng khai thác hầm lò sau khi khai thác lộ thiên tới mức -152 m là khó khả thi.

Trữ lượng quặng còn lại dưới mức -152m là 19,7 triệu tấn. Ngoài ra, triển vọng quặng tồn tại dưới mức -350 là hoàn toàn khả quan. Với trình độ công nghệ và tiến bộ kỹ thuật trong khai thác mỏ hiện nay thì việc khai thác hầm lò đến độ sâu dưới -350m là hoàn toàn khả thi. Vấn đề được đặt ra là cần có giải pháp để khai thác và khai thác triệt để phần trữ lượng này khi phía trên là moong lộ thiên rất rộng, sâu và chứa đầy nước.

3. Các vấn đề cần quan tâm giải quyết khi khai thác hầm lò

Để khai thác triệt để phần trữ lượng dưới sâu mỏ đồng Sin Quyền, theo chúng tôi cần có các giải pháp sau:

1. Giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất: để khai thác khối trữ lượng dưới mức -152 thì cần để lại trữ lượng bảo vệ khá lớn, từ 100 m trở lên. Vì vậy, giai đoạn đầu khai thác lộ thiên chỉ nên tiến hành đến mức nào đó (mức cụ thể cần có tính toán), sau đó chuyển sang khai thác hầm lò. Sau khi kết thúc khai thác hầm lò thì trở lại khai thác trụ bảo vệ bằng phương pháp lộ thiên. Khi đó, moong lộ thiên chưa rộng và chưa sâu dung tích chứa nước còn nhỏ, mức độ ảnh hưởng của nước mặt tới khai thác hầm lò sẽ giảm đáng kể.

2. Khai thông mỏ bằng giếng đứng và hệ thống lò vận chuyển đi trong đá dọc theo đường phương, ở cả hai bên vách và trụ; các lò vận chuyển nối với nhau bằng lò xuyên vỉa, đảm bảo vận tải quặng và đất đá theo đường một chiều. Sử dụng hệ thống khai thác theo lớp ngang kết hợp với chèn. Đất đá chèn là đất đá thu được khi đào lò và quặng đuôi thải của nhà máy tuyển, phần còn thiếu được lấy từ bãi thải đá lộ thiên. Hệ thống khai thác này cho phép khai thác triệt để quặng vì không cần để lại trụ bảo vệ. Ngoài ra còn giải quyết được lượng đất đá khi đào lò và bãi thải quặng đuôi hiện đang là vấn đề tồn tại ở mỏ.

3. Tiến hành việc tháo khô mỏ cùng với quá trình đào lò chuẩn bị mà không cần có biện pháp đặc biệt. Công tác chuẩn bị khai thác cần vượt trước công tác khai thác trung bình là 2 năm. Ngoài ra cần tháo khô triệt để nước ở moong khai thác lộ thiên bằng các trạm bơm công suất lớn để nước mặt không làm ảnh hưởng tới khai thác hầm lò.

4. Nắn suối Ngòi Phát sâu về phía khai trường khu Tây, qua khu vực không có khai thác hầm lò. Khi đó có thể khai thác triệt để quặng ở trụ bảo vệ suối và giảm ảnh hưởng của nước suối Ngòi Phát đến khai thác hầm lò.

5. Để giữ ổn định công suất và sản lượng mỏ trong giai đoạn chuyển từ khai thác lộ thiên sang hầm lò cần kết hợp khai thác hầm lò ở khu trung tâm mỏ đồng Sin Quyền với khai thác lộ thiên ở khu vực phân vùng V hoặc các vùng lân cận và sử dụng các bãi chứa quặng cho nhà máy tuyển. Ngoài ra, công suất khai thác hầm lò theo tính toán của Viện NIPRORUDA có thể đạt 2 triệu tấn quặng. Như vậy sẽ cho phép khai thác ở những thời điểm có lượng nước chảy vào mỏ lớn nhất mà vẫn đảm bảo công suất 1,2 triệu tấn quặng/ năm.

6. Cần nghiên cứu khả năng khai thác hầm lò phần trữ lượng ngoài ranh giới khai trường lộ thiên theo đường phương bằng cách đào lò từ bờ mỏ lộ thiên (lò dọc vỉa hoặc giếng nghiêng). Ở mỏ đồng Sin Quyền, phần trữ lượng này rất đáng kể, nhất là ở vùng tiếp giáp với khu trung tâm về phía Đông Nam , nơi các thân quặng bị vót nhọn. Do mở vỉa và khai thác bằng các lò đi trong quặng nên chi phí chuẩn bị khai thác thấp, dẫn đến giá thành khai thác thấp.

Để chuyển tiếp một cách có hiệu quả từ khai thác lộ thiên sang hầm lò, ngay từ bây giờ cần tiến hành các công việc sau:

1. Tiến hành thăm dò nâng cấp toàn bộ các khối trữ lượng cấp C2 ở dưới sâu lên cấp C1 (trữ lượng cấp C2 là 29,6 triệu tấn). Công việc này đòi hỏi thời gian từ 2 – 3 năm và chi phí lên đến hàng chục tỷ đồng.

2. Trên cơ sở trữ lượng tài nguyên đã được đánh giá lại, lập biểu đồ chế độ công tác mỏ giai đoạn chuyển tiếp, xác định kích thước và vị trí các trụ bảo vệ, lựa chọn sơ đồ khai thông mở vỉa và vận chuyển hợp lý, lập biện pháp thoát nước, tháo khô đáy mỏ lộ thiên.

3. Nghiên cứu phương án nắn suối Ngòi Phát và tiến hành nắn suối, hạn chế ảnh hưởng của nước mặt đến công tác khai thác lộ thiên hiện tại và khai thác hầm lò sau này.

Hiệu quả chuyển đổi từ khai thác lộ thiên sang hầm lò phụ thuộc rất nhiều vào sự chọn thời điểm chuyển tiếp. Nếu không nghiên cứu chuyển giai đoạn từ khi đang tiến hành khai thác lộ thiên thì hiệu quả chuyển đổi sẽ rất thấp và gây ra lãng phí tài nguyên.

Trong tình hình tài nguyên thuộc quyền quản lý của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam còn lại không nhiều và điều kiện phát triển mỏ mới còn hạn chế, việc nghiên cứu khả năng khai thác triệt để trữ lượng khoáng sản nói chung và trữ lượng quặng đồng ở mỏ đồng Sin Quyền nói riêng có ý nghĩa rất lớn và mang tính cấp bách.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.