“Hội nhập không chỉ là việc của Nhà nước, mà là việc của toàn dân”
Cách đây 100 năm, phong trào Duy Tân được phát động với mục đích mở ra một cuộc hội nhập cho dân tộc nhưng không đi đến thành công. Tuy nhiên, những tư tưởng của phong trào Duy Tân cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Năm 2010, sau 4 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã thu được những kết quả nhất định nhưng cũng trong thời điểm này đang đặt ra nhiều thách thức cho tiến trình hội nhập.
Tại sao nói phong trào Duy Tân cách đây 100 năm “chính là một cuộc hội nhập lớn” trong tiến trình lịch sử Việt Nam? Trả lời câu hỏi này, ông Dương Trung Quốc cho biết: Đến đầu thế kỷ XX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Và đương nhiên, một số đông theo quan điểm truyền thống coi Pháp là kẻ thù không đội trời chung. Chỉ có một bộ phận cấp tiến, có một tầm nhìn xa hơn, cũng xuất thân từ các nhà nho, họ nhìn thấy đằng sau nhà nước thực dân Pháp là một nền văn minh Pháp. Họ nhìn thấy giá trị văn hóa Trung Hoa là một nguồn lực đồng thời thấy đó là một cản lực lớn cho tinh thần tự chủ của dân tộc mình. Vì thế, phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX chính là một cuộc hội nhập. Lớp người Duy Tân đưa ra những tư tưởng rất sáng tạo mà bây giờ chúng ta thấy vẫn còn phù hợp.
Ví dụ như chủ nghĩa tam dân của cụ Phan Châu Trinh là “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, luôn luôn coi đổi mới tư duy là quan trọng nhất. Tuy nhiên, các cụ trong phong trào Duy Tân không thể vượt qua những cản lực rất lớn có tính lịch sử, đó là chế độ thuộc địa. Chỉ có một người phát hiện ra điều ấy, rằng hội nhập chỉ có thể thực hiện được với tư cách là một quốc gia độc lập - đó là Hồ Chí Minh.
Về ảnh hưởng của phong trào Duy Tân với tư tưởng hội nhập, tiến bộ đó đến con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, ông Dương Trung Quốc phân tích: Cụ Hồ trước hết là nhà Duy Tân, con cháu nhà Duy Tân. Cụ ảnh hưởng rất nhiều của cụ Phan Châu Trinh, ngay cả khi sang Pháp. Tuy nhiên, Cụ Hồ đã nhận ra cái điều vượt ra khỏi thế hệ tiền bối của mình là phải giải quyết vấn đề dân tộc trước đã. Và muốn giải quyết vấn đề dân tộc không chỉ đơn thuần là vấn đề vũ trang bạo lực như các thế hệ trước. Mà Cụ Hồ đã tìm ra được một cái quan trọng là vũ khí dân chủ.
Nhưng trong bối cảnh ấy thì cũng không tìm ra được một nguồn cổ vũ nào cả. Chính lúc đó, học thuyết của Lênin đã đáp ứng được điều quan trọng nhất, trước mắt nhất là chống thực dân. Cụ tìm ra Học thuyết của Lênin và cụ dấn thân vào con đường của chiến sĩ Cộng sản…
Vì sao có thể nói rằng, từ ảnh hưởng của tư tưởng hội nhập của phong trào Duy Tân, Cụ Hồ đã chuẩn bị chu đáo và thực thi một cách đầy đủ cho một cuộc hội nhập lớn của nước Việt Nam hiện đại? Theo ông Dương Trung Quốc: Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, sau một thời gian rất ngắn, tất cả tư tưởng của Cụ Hồ được xác lập là tư tưởng chuẩn bị cho một cuộc hội nhập lớn. Một cuộc hội nhập để đưa đất nước Việt Nam hàng ngàn năm phong khiến, hàng trăm năm thuộc địa có thể đi ngay vào thế giới hiện đại, hội nhập với thế giới. Ngay từ đầu, cụ chọn con đường giải phóng dân tộc không phải là một cuộc khởi nghĩa vũ trang khép kín, dựa vào một thế lực nước ngoài này mà dựa vào lực lượng đồng minh.
Cho nên cơ sở pháp lý của Nhà nước Việt Nam ra đời là rất mạnh mẽ, là một lực lượng được xác lập trong quá trình cùng với đồng minh diệt phát xít. Với tầm nhìn của thời đại, với mục tiêu tiên quyết là độc lập dân tộc. Trước hết, Hồ Chí Minh chọn thể chế chính trị, một chế độ rất phổ biến của các nước tiên tiến, được hình thành trên tất cả những tập quán hiện đại. Từ việc tổ chức bầu cư các cấp, từ nguyên lý bình đẳng dân tộc, bình đẳng giới, bình đẳng về tôn giáo… Như vậy, cụ muốn xã hội Việt Nam bắt kịp ngay với tập quán quốc tế.
Ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ, cụ đưa ra những nhiệm vụ cấp thiết: chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và thứ tư là giáo dục lại nhân dân. Tôi cho quan điểm ấy là cực kỳ quan trọng. Bởi vì hội nhập không phải chỉ là việc của nhà nước, không chỉ là của doanh nghiệp mà là việc của toàn dân.Muốn hội nhập, con người không thể là con người của chế độ cũ được. Con người không thể có tập tính thần dân mà phải là những công dân thực sự. Muốn vậy, phải giáo dục dân. Lúc đó, Cụ phát động phong trào rất quan trọng mà chúng ta ít quan tâm tới, đó là phong trào đời sống mới. Đi vào đời sống hàng ngày của người dân, cải tạo dần nhận thức, hành vi và nếp sống.
Tư tưởng hội nhập của Hồ Chí Minh đã được chuẩn bị và thực thi rất kỹ càng. Đề cập cụ thể về điều này, ông Quốc nói: Hồ Chí Minh xây dựng hệ thống nhà nước với cả hai mặt của nó. Một là tư tuởng của dân, do dân, vì dân. Xây dựng một thể chế hành chính và một bộ máy dân bầu từ Quốc hội cho đến địa phương ngay từ đầu, cùng với nó là khởi động cuộc đấu tranh chống quan liêu. Ngay sau sắc lệnh về thành lập cơ quan hành chính là sắc lệnh thành lập Thanh tra đặc biệt và Tòa án đặc biệt của Chính phủ. Về xây dựng hạ tầng, việc đầu tiên là cụ khắc phục khiếm khuyết của lịch sử là công nhận chế độ sở hữu tư nhân.
Trong bức thư gửi các nhà công thương, Cụ đã đưa ra nguyên lý dân giàu thì nước mới mạnh, là sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc dân gắn liền với sự thịnh vượng của các nhà công thương. Thứ ba là chính sách đối ngoại là rộng mở hết cỡ, sẳn sàng hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế, kể cả hạ tầng cơ sở, bến cảng, sân bay, chấp nhận tất cả cam kết quốc tế và Liên hợp quốc. Chính sách là Việt Nam muốn làm bạn với các nước dân chủ, không muốn gây thù oán với ai. Ba nền tảng cơ bản là: thể chế, kinh tế - xã hội và đối ngoại có thể nói được xây dựng là để sẵn sàng hội nhập.
Phải chăng, đổi mới và gia nhập WTO là tiếp tục thực hiện những tư tưởng hội nhập của Hồ Chí Minh?Đổi mới chính là quá trình khắc phục những khiếm khuyết của lịch sử và những tập tính của chiến tranh. Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh cũng có nghĩa là trở lại tư tưởng hội nhập. Hai mươi năm đổi mới chính là quá trình chuẩn bị, quá trình đi đến với hội nhập. Những ý tưởng hội nhập của những nhà Duy Tân đầu thế kỷ trước, của Chủ tịch Hồ Chí Minh nay đã thành hiện thực nhưng ở một tầm mức mới, trong một hoàn cảnh mới.
Sau 4 năm gia nhập WTO, câu hỏi cần tiếp tục đặt ra đối với mỗi người Việt và dân tộc Việt là cần phải làmgì để hội nhập thành công? Ông Quốc trả lời:“Phải ý thức rằng, chúng ta đang bước vào một cuộc sống mới, sống trong một môi trường mới nên nhập gia phải tùy tục. Ở đây, không phải nhập gia mà phải nhập với cả thế giới.
Trước nay, chúng ta vẫn thường nói là “Sống và làm việc theo pháp luật”. Khi hội nhập, chúng ta phải hiểu thêm một nội hàm nữa là phải sống và làm việc theo pháp luật của thiên hạ. Mặc dù, chúng ta có đặc thù, có quyền độc lập nhưng muốn hội nhập thành công, trước hết phải theo kịp bước đi của thời đại. Muốn như thế, không phải chỉ nhà nước theo kịp, thực hiện cam kết, không chỉ doanh nghiệp thực hiện cam kết, mà chính người dân với tư cách là người lao động cũng phải hòa vào dòng chảy hội nhập. Chính bây giờ ta phải thực hiện đời sống mới. Con người mà đi xe cộ không đúng luật lệ, con người mà ăn nói không minh bạch, con người làm ăn không đứng đắn, đàng hoàng chính là con người của chế độ cũ. Không phù hợp với xã hội mới, không phù hợp với hội nhập…”.
Để có những bước chuyển về “tập tục”như ông vừa nói, cần thiết phải có một bước cách tân, một phong trào chấn hưng văn hóa như các cụ Duy Tân cách đây 100 năm...Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng cần phải giáo dục nhân dân như Cụ Hồ nói, là phải xây dựng đời sống mới. Cán bộ không phải là quan, dân không được xưng con với cán bộ. Cần có những quy định rất cụ thể: Cán bộ không được từ chối tiếp dân trong giờ hành chính, người dân phải lễ phép với công chức… Cần phải có những quy định cụ thể từ những việc nhỏ nhất để công chức và dân đều theo đó thực hiện. Cần phải phát huy tính gương mẫu, trong hành động, nói và làm cần phải thống nhất. Tính gương mẫu của người lớn, của những người có quyền chức là vô cùng cần thiết.
Sau 4 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã thu được thành công nhưng nhiều thách thức đang đặt ra cho quá trình hội nhập.








