Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 22/10/2010 21:47 (GMT+7)

Hiệu quả khai thác, sử dụng nước lưu vực sông Đáy - Nhuệ theo góc độ kinh tế và môi trường

Lưu vực sông Đáy-Nhuệ thuộc lưu vực sông Hồng, lưu vực đi qua sáu tỉnh, thành: Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Phạm vi lưu vực được giới hạn từ 20 0đến 21 020' vĩ độ Bắc, từ 105 0đến 106 030' kinh độ Đông. Tổng diện tích tự nhiên của lưu vực khoảng 7.970 km 2.

Đặc điểm về khai thác, sử dụng nước

Khai thác, sử dụng nước có tiêu hao

Nông nghiệp:Là ngành sử dụng nước nhiều nhất trong lưu vực, tổng lượng nước sử dụng cho nông nghiệp trong lưu vực ước tính khoảng 2,9 tỷ m 3, chủ yếu là cấp nước cho trồng lúa, lượng nước chiếm khoảng 80%. Hiện nay, một số tỉnh trong lưu vực có kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ lúa sang các loại cây trồng khác có giá trị cao hơn và sang nuôi trồng thuỷ sản đối với các vùng trũng trong mùa mưa.

Nước cho đô thị và công nghiệp:Phần lớn lượng nước sử dụng cho đô thị và công nghiệp tập trung ở Hà Nội và Hà Tây, nguồn nước chủ yếu khai thác từ nước ngầm với lượng nước sử dụng khoảng 420 triệu m 3mỗi năm. Nguồn nước mặt sử dụng ít hơn nhiều, hàng năm nước mặt sử dụng cho cấp nước đô thị trong lưu vực khoảng 16,5 triệu m 3và cho công nghiệp khoảng 63,5 triệu m 3. Lượng nước sử dụng cho công nghiệp và đô thị khu vực Hà Nội và Hà Tây có mức độ tăng khá lớn, chủ yếu được khai thác từ nước ngầm và nguồn nước ngoài lưu vực, trong đó chủ yếu là cho phát triển các khu thị trấn, tuy nhiên lượng nước này không lớn.

Cấp nước nông thôn:Việc đánh giá chính xác lượng nước sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nông thôn được khai thác từ các giếng khoan hoặc giếng đào. Ước tính dân số nông thôn trong lưu vực khoảng 5,7 triệu người với lượng nước sử dụng trung bình 30 lít/ngày thì tổng lượng nước sử dụng cho sinh hoạt nông thôn khoảng 64,2 triệu m 3/năm.

Nước cho thuỷ sản:Nhu cầu sử dụng nước cho nuôi trồng thuỷ sản bằng ao hồ trong lưu vực ước tính trung bình từ 40.000 đến 60.000 m 3/ha/năm. Tuy nhiên, phần lớn nước được sử dụng trong mùa mưa và được xả trở lại dòng sông sau khi sử dụng nên khó có thể đánh giá chính xác lượng nước sử dụng thực tế. Thủy sản chủ yếu phát triển ở khu vực hạ lưu và ven biển, bao gồm cả các cửa sông.

Khai thác, sử dụng nước không tiêu hao

Các nhu cầu khai thác, sử dụng nước không tiêu hao chính được xác định trong lưu vực như sau:

Pha loãng ô nhiễm từ nước thải:Đây là nhu cầu sử dụng nước không tiêu hao quan trọng nhất trong lưu vực sông Đáy- Nhuệ, lương nước yêu cầu là dòng chảy để đảm bảo pha loãng các chất ô nhiễm từ nước thải công nghiệp và đô thị. Chất lượng nguồn nước kém dẫn đến hàng loạt các tác động tiêu cực trong đó có các tác động đến sức khoẻ con người. Việc tăng dòng chảy mùa cạn nhằm pha loãng ô nhiễm rất quan trọng đối với tỉnh Hà Nam - tỉnh chịu tác động lớn nhất do chất lượng nguồn nước bị suy thoái trong lưu vực.

Cho thủy điện:Chủ yếu tập trung ở Hoà Bình, đến nay có khoảng 100 trạm thủy điện nhỏ với công suất 5-15 kW, phục vụ cho từ 5 - 30 hộ gia đình, các trạm thủy điện này sử dụng nguồn nước sau các đập dâng nhỏ, ngoài ra có khoảng 2000 máy phát điện mini với công suất nhỏ hơn 1 kW, các máy phát này đặt trực tiếp trên dòng chảy, không cần xây dựng nhịp dâng. Tuy nhiên, các trạm thuỷ điện này có xu hướng giảm bớt do mức độ an toàn không cao và do mở rộng lưới điện quốc gia.

Nuôi cá trên dòng sông:Việc nuôi cá trên dòng sông không phải là hoạt động chính trong lưu vực. Thực tế, do mức ô nhiễm cao nên hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trên sông Nhuệ ở Hà Nội và Hà Tây đã bị cấm. Tuy nhiên, có hàng loạt lồng các được nuôi trên sông và nó đóng vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân nông thôn. Yêu cầu dòng chảy cho các hoạt động này được đánh giá là nhỏ nhất, thực tế yêu cầu dòng chảy chủ yếu là để hoà tan các chất ô nhiễm có tác động đến chất lượng hoạt động nuôi trồng thủy sản.

Du lịch:Du lịch sinh thái là hoạt động quan trọng ở Ninh Bình và có xu hướng phát triển ở một số vùng khác như du lịch làng nghề ở Hà Tây. Đối với du lịch sinh thái và cảnh quan, hiện chưa đánh giá yêu cầu cụ thể về dòng chảy.

Giao thông, vận tải thuỷ:Vận tải thuỷ, đặc biệt là vận chuyển than và vật liệu xây dựng, là hoạt động kinh tế quan trọng trên sông Đáy. Vì thiếu nước trong mùa khô vận tải thuỷ ở các đoạn sông thượng lưu đã bị nhiều hạn chế. Ví dụ, mực nước thấp làm cho các tàu thuyền cỡ lớn chỉ hoạt động với 50-60% tải trọng thiết kế.

Kiểm soát xâm nhập mặn:Trong mùa khô, xâm nhập mặn ăn sâu vào tới 20km tính từ cửa sông Đáy, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và cho môi trường. Các ảnh hưởng này có xu hướng gia tăng trong 10-15 năm qua do sự thay đổi chế độ thuỷ văn, kể cả việc gia tăng sử dụng nước ở thượng lưu. Khi xâm nhập mặn vượt qua một giới hạn nhất định, việc lấy nước cho nông nghiệp phải dừng lại, làm kéo dài thời gian sản xuất hoặc làm giảm năng suất cây trồng do suy giảm chất lượng nước.

Duy trì dòng chảy môi trường:Nhu cầu dòng chảy sinh thái, môi trường cần được đánh giá như một nhu cầu sử dụng nước không tiêu hao, các cơ quan liên quan cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc duy trì dòng chảy môi trường.

Hiệu quả khai thác, sử dụng nước trong lưu vực

Ngành nông nghiệp

Giá trị sản phẩm sử dụng nước đối với ngành nông nghiệp thường được tính từ tổng giá trị thu được (đơn giá thị trường nhân với sản lượng) trên một m 3nước sử dụng. Thông thường trong kinh tế nông nghiệp, việc đánh giá chi phí chủ yếu được dựa trên các chi phí ngắn hạn, là chi phí làm ra sản phẩm, các chi phí này thường liên quan trực tiếp đến sản xuất như giống, phân bón, nhiên liệu, chi phí bơm nước, sửa chữa và các chi phí khác liên quan đến sản xuất.

Có thể thấy giá trị thu được của 1m 3nước cho trồng lúa của các vùng tương đối thấp, khoảng từ 1.000 - 3.000 đồng, giá trị này không đủ để trang trải chi phí vận hành, bảo dưỡng và thay thế thiết bị cho hệ thống thuỷ nông cấp nước. Như vậy có thể thấy rõ là hiệu quả sử dụng nước cho sản xuất lúa trong lưu vực có giá trị kinh tế rất thấp.

Ngành thuỷ sản:Giá trị sản phẩm sử dụng nước với ngành thủy sản thường được tính từ tổng giá trị thu được (đơn giá thị trường nhân với sản lượng) trên một đơn vị nước. Theo Sở Thuỷ sản tỉnh Nam Định cho biết, sản lượng thu được ước tính trung bình khoảng 1,5 tấn/ha với lượng nước sử dụng khoảng 40,000 m 3/ha đối với thuỷ sản nước ngọt, với giá trị trung bình 10.000đồng/kg thì giá trị thu được từ sử dụng nước khoảng 375 đồng/m 3, đây là giá trị trung bình.

Có thể nhận thấy việc sử dụng nước cho nuôi trồng thủy sản trong lưu vực phụ thuộc vào giá cả sản phẩm thuỷ sản trên thị trường và giá trị sử dụng 1m 3nước khá thấp.

Ngành công nghiêp:Giá trị sản phẩm sử dụng nước với toàn ngành công nghiệp được tính toán bằng cách đánh giá tổng giá trị thu được của sản phẩm công nghiệp. Ước tính để làm ra 1 triệu đồng GDP ngành công nghiệp, cần sử dụng 25m 3nước, như vậy giá trị trung bình của 1m 3nước khoảng 40.000 đồng, gấp hơn 10 lần so với nông nghiệp.

Cấp nước sinh hoạt:Giá trị sản phẩm sử dụng nước đối với cấp nước sinh hoạt là giá nước mà người dùng phải trả. Trong lưu vực sông Đáy-Nhuệ, hầu hết các tỉnh đều thu giá cấp nước sinh hoạt là 2.500đồng/m 3, nhưng giá thành để xử lý 1 m 3nước lại cao hơn, khoảng 4.000 đồng/m 3.

Đối với các mục đích sử dụng không tiêu hao:Giá trị của nước đối với các mục đích sử dụng không tiêu hao được tính toán dựa trên các tác động cụ thể đối với mỗi phương án, đó là các lợi ích thu được nhờ việc gia tăng sức khoẻ cộng đồng, cải thiện điều kiện vệ sinh, môi trường, cảnh quan sinh thái, duy trì và bảo vệ các loài thuỷ sinh.

Kết luận

Đối với lưu vực sông Đáy-Nhuệ, sản xuất lúa là ngành có mức sử dụng nước nhiều nhất. Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp là một xu hướng quan trọng nhằm tăng hiệu quả khai thác, sử dụng nguồn nước cũng như giảm lượng nước khai thác sử dụng trong những thời đoạn khó khăn về nguồn nước.

Kết quả phân tích giá trị kinh tế của nguồn nước trong các phương án sử dụng trong lưu vực sông Đáy-Nhuệ cho thấy hiệu quả khai thác, sử dụng nước cho đô thị và công nghiệp có giá trị cao hơn nhiều so với sử dụng nước cho nông nghiệp, đồng thời các giá trị sử dụng nước không tiêu hao cũng có hiệu quả về xã hội và môi trường cao hơn sản xuất lúa. Đây cũng là hiện trạng chung về khai thác, sử dụng ở Việt Nam . Theo góc độ quản lý và phương hướng phát triển bền vững, định hướng cho khai thác, sử dụng nước trong lưu vực sông Đáy-Nhuệ là giảm lượng nước sử dụng cho lúa, tăng lượng nước có giá trị cao, tăng lượng phân bổ cho nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất công nghiệp, chú trọng tới phân phối nguồn nước cho các mục đích môi trường nhằm hài hoà và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nước trong lưu vực theo cả hai khía cạnh kinh tế và môi trường.

Bảng: Giá trị thu được từ sản xuất lúa

Tỉnh

Sản lượng (tấn/ha)

Đơn giá (Đ/tấn)

Tổng giá trị thu được (Triệu đ/ha)

Lượng nước sử dụng (m 3/ha)

Giá trị trung bình thu được (Đ/m 3)

Hoà Bình

Vụ hè thu

4,5

2.500.000

11

4.500

2.500

Hoà Bình

vụ Đông xuân

4,5

2.500.000

11

6.000

1.875

Hà Nội

Một năm 2 vụ

10-12

2.500.000

28

10.000

2.750

Hà Tây

Một năm 2 vụ

10-12

2.500.000

28

10.000

2.750

NamĐịnh

Một năm 2 vụ

6,1

2.100.000

13

11.500

1.000

Ninh Bình

Một năm 2 vụ

10

2.000.000

20

10.000

2.000

Bảng: Hiệu quả khai thác, sử dụng nước trong lưu vực sông Đáy-Nhuệ

Mục đích sử dụng

Tổng giá trị thu được (đồng/m 3)

Giá trị ròng (đồng/m 3)

Nông nghiệp - lúa

1.000 - 3.000

1.300

Nông nghiệp - vụ đông

4.000

1.850

Thủy sản

375

Không tính

Cấp nước đô thị

2.500 (giá bao cấp)

Giá thực tế cao hơn nhiều

Sản xuất công nghiệp

40.000

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.