Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 13/06/2013 21:52 (GMT+7)

Hai động từ “Vào/Ra” trong tiếng Việt hiện đại

Trongnhóm độngtừchỉ sự di chuyển có định hướng, haiđộngtừVào, Ra từlâu đã được chú ý (1), vì chúng có một cách dùng khá đặc biệt: ngoài những điểm chung như ở nhiều ngôn ngữ khác, ở tiếngViệt, VÀO còn dùng để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía NAM, và RA còn dùng để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía Bắc. Ví dụ:

- ( TừHuế ) ra Vinh, đưa ra Vinh, ra họp ở Vinh hướng Ra Bắc;

- ( TừVinh) Vào Huế, đưa vào Huế, vào họp ở Huế hướng Vào Nam.

Những cách nói này lại còn mật thiết liên quan đến việc dùng haitừchỉ vị trí Trong và Ngoài: Vào Vinh, Trong Vinh → vào trongVinh, Vào Nam, Trong Nam→ Vào trong Nam /Ra Vinh, Ngoài Vinh → Ra ngoài Vinh, Ra Bắc, Ngoài Bắc → Ra ngoài Bắc.

Nhưng về đặc điểm của những cách dùng này, cũng như về lai nguyên của chúng, hiệncác nhà nghiên cứu vẫn chưa cung cấp được một sự giải thích thật sáng tỏ.

Dựa vào cứ liệu trongmột số văn bản cổ, chúng ta thấy việc gắn liền các ý niệm VÀO, TRONGvới phương Nam, các ý niệm Ra, Ngoài với phương Bắc, chậm nhất cũng đã có từđầu thế kỷ XV:

a) TrongDư địa chí,cuốn sách địa lý viết bằng Hán văn đầu tiên của người Việt, ta thấy độngtừNhập đã được dùng để chỉ việc đi vào Nam:

Trần Thái Tôn mệnh thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải Nhập ngự Nguyên nhân vu Nghệ An(Vua Trần Thái Tôn hạ lệnh cho thượng tướng Chiêu Minh vương, Trần Quang Khải, vào chặn đánh quân Nguyên ở Nghệ An), (Dư Địa chí,phần chữ Hán, trang 87, in năm 1966, Văn hoá tùng thư xuất bản, số 30).

Dư Địa chíthì ai cũng rõ là do Nguyễn Trãi viết và do Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Thiên Túng, Lý Tử Tấn chú giải, bổ sung, bình luận thêm. Cả bốn nhân vật này đều là người đầu đời Lê.

b) TrongThiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thưcủa một tác giả tự xưng là “ nhà nho đỗ thi hương, họ Đỗ Bá, hiệu Đạo Phủ, quê ở Bình Triều, Thanh Giang”cũng đã có những câu dùng Xuất, Nhập, Ngoại liên quan đến hướng Nam /Bắc như vậy:

1. Như tự Cửa Lạc việt, Nhập nghi thu đông, Xuất nghi xuân hạ(Nếu từcửa Lạc vượt biển để VÀO thì phải đi trongmùa thu hay mùa đông, để Ra thì phải đi trongmùa xuân hay mùa hạ), (Hồng Đức Bản đồ,Sài Gòn, phần Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư,trang 76).

2. Tự Lại doanh Xuất chí Kinh Nhà Hồ... Tự Ngoại Nhập chí Tạm độ...( Từdoanh Lại Ra đến Kinh Nhà Hồ ...TừNgoài mà Vào đến Tạm độ...), (Tác phẩm như trên, trang 91) .

Hơn nữa, có chỗ văn bản vừa dùng câu chữ Hán có Xúât, Nhập vừa dùng câu chữ Nôm có Ra, Vào để giải thích cho nhau, ví dụ:

3. Tự Cầu Ngạn Nhập tắc xanh thuyền diên Thạch Hà biên, Xuất tắc xanh thuyền diên Thiên Lộc biên, tục vân: Vào Thạch Hà, Ra Thiên Lộc( TừCầu Ngạn mà Vào thì phải chèo thuyền ven bên Thạch Hà, mà Ra thì phải chèo thuyền ven bên Thiên Lộc, có câu tục ngữ rằng: Vào Thạch Hà, Ra Thiên Lộc), (Tác phẩm như trên, trang 84).

Theo công trình nghiên cứu tập thể gần đây nhất, Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thưlà một tác phẩm viết trongkhoảng 1630-1655 2. Vì không rõ gì hơn về tiểu sử và về vùng Bích Triều, Thanh Giang, nhóm nghiên cứu phỏng đoán tác giả của nó là một người sống thế kỷ 17. Nhưng theo sự hiểu biết của chúng tôi thì:

- Bích Triều là một vùng cách thành phố Vinh khoảng 30 km; Thanh Giang là tên trước năm 1469 của huyện Thanh Chương 3. Tác giả còn tự xưng quê ở Thanh Giang, vậy tác giả là một người của thế kỷ 15 4. Văn bản có niên đại1630-1655 chỉ là một văn bản sao chép lại, nhưng khi sao chép có sửa chữa: một trongnhiều chứng cớ là ngay tên huyện Thanh Giang lắm chỗ cũng đã đổi thành Thanh Chương.

- Từvùng quê của tác giả có đường thông sang Hà Tĩnh khá gần, vậy câu Vào Thạch Hà, Ra Thiên Lộcchắc là một câu tác giả đã tự tai nghe được và thu thập đưa vào tác phẩm từgiai đoạn Lê sơ. Nhưng dầu có chủ trương cho đó là một câu mới thêm vào sau, tronggiai đoạn sao chép 1630-1655, thì chính những người sao chép cũng phải công nhận đó là câu đúc rút kinh nghiệm có đã từlâu đời, vì họ cũng nói đó là một câu tục ngữ.

Gần đây có ý kiến cho rằng haitên gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài (hình thành vào khoảng thế kỷ XVII) là nguyên nhân đưa đến lối nói Vào Nam Ra Bắc 5. Rõ ràng những cứ liệu dẫn trên đây hoàn toàn không ủng hộ cho ý kiến đó.

Nhưng từlâu ở ViệtNam thường hay dùng từNam thay cho từViệtvà thường hay dùng sự đối lập Nam /Bắc thay cho sự đối lập Việt/Trung Quốc. Việc tự xưng tên nước là Nam Quốc (hay Nước Nam, Nam bang) chậm nhất cũng đã có từđời Lý. Vậy có thể từcơ sở thực tế này mà suy ra các lối nói Trong Nam/Ngoài Bắc, Vào Trong Nam/ Ra ngoài Bắc được không? Theo ý chúng tôi cũng khó lòng mà chấp nhận được một giả thuyết như vậy.

a) Khảo sát các độngtừtrongcùng nhóm với Vào, Ra, chúng ta thấy:

Trongviệc diễn tả sự di chuyển đến một địa điểm nào đấy, người ViệtNam thường thích dùng những độngtừcó hình tượng, có khả năng miêu tả cụ thể như lên, xuống, vào, ra, sang, qua thay cho những độngtừtrung lập kiểu như đi, đến, tới:

– Cách dùng động từ +địa danhthường theo sát cách đặt động từ + danh từ chung. So sánh: Lên núi - Lên Tam Đảo, Lên vùng cao - Lên Tây Bắc, Xuống biển - Xuống Hạ Long, Xuống vùng thấp - Xuống Thái Bình, Qua bên kia sông - Qua Gia Lâm...

– Đó là những cách nói phản ảnh một sự hiểu biết sâu sắc về địa hình chi tiết từng vùng, vì khi nói phải xác định đúng vị trí đối đãi giữa chỗ xuất phát và vị trí hướng đến. Ví dụ:

– nói từ Vinh lên Nam Đàn: biết Vinh gần biển hơn Nam Đàn;

– nói từ Rạng xuống Nam Đàn: biết Rạng gần núi hơn Nam Đàn.

– Hơn nữa, nhiều khi cách nói đó còn phản ảnh cả sự cân nhắc lựa chọn chủ quan của người nói trước những khả năng nhìn nhận khác nhau về cùng một địa hình. So sánh:

– nói lên Điện Biên nhấn ý Điện Biên là một vùng cao;

– nói vào Điện Biên: nhấn ý Điện Biên là một vùng thung lũng kín.

Như vậy, chắc trước tiên phải có những câu nói cụ thể ở từng địa phương nhỏ, phản ảnh sát đúng sự đi lại tuỳ theo địa hình từng vùng rồi sau mới hình thành những câu nói chung như xuống Đông lên đoài, ra Bắc vào Nam, chứ không phải là trước tiên có những công thức khái quát dựa trên địa lý toàn quốc rồi sau mới đem ứng dụng nhất luật vào từng vùng nhỏ. Có quan niệm thế, chúng ta mới hiểu được vì sao ở vùng Nam Bộ – nơi người Việtmới đến sinh sống gần đây chưa lâu lắm – trên những trục đường đúng hướng Nam/Bắc như Gia Định - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh hoặc Gia Định - Củ Chi - Tây Ninh ai cũng nói Lên/xuống chứ không nói Vào /Ra, theo công thức đã sẵn có từlâu đời. Ví dụ: ( TừThủ Dầu Một) Lên Lộc Ninh; ( TừLộc Ninh) Xuống Bến Súc; ( TừGia Định) Lên Tây Ninh; ( TừTây Ninh) Xuống Củ Chi.

b) Hơn nữa, nếu cho rằng những cách nói Trong Nam/ Ngoài Bắc, Vào Nam / Ra Bắc đều bắt nguồn từsự đối lập Nam quốc / Bắc quốc thì cũng khó hiểu được vì sao, về phương diện đi lại, Ra Bắc không bao giờ có nghĩa là đi sang Trung Quốc, và vào Nam hầu như cũng không bao giờ có nghĩa là đi vào đất ViệtNam, tronglúc, về nhiều phương diện khác, vẫn còn dùng những lối nói đối nhau như Nam sử / Bắc sử, Quân Nam / Quân Bắc, Thuốc Nam / Thuốc Bắc, v.v...

Vậy quá trình hình thành lối nói vào Nam /ra Bắcnên hình dung như thế nào? Về vấn đề này, ý kiến chúng tôi có thể tóm tắt như sau:

a) Lối nói vào Nam/Ra Bắc đã có mặt từthời Nguyễn Trãi. Vậy nó phải sản sinh trên cơ sở những lối nói về việc đi lại trên địa bàn ViệtNam khoảng thời gian đó, tức là khoảng đầu thế kỷ 15 trở về trước. Thời gian này, như cứ liệu lịch sử cho biết, lãnh thổ ViệtNam mới bao gồm vùng Bắc Bộ và giải đất từThanh Hoá đến Thừa Thiên. Người ViệtNam tập trung sinh sống chủ yếu ở châu thổ sông Hồng, một vùng đồng bằng rộng, mở mang, k haiphá từlâu, ba phía giáp vùng núi cao (Bắc, Tây và Tây Nam), một phía giáp biển (Đông), ở giữa có một hệ thống sông ngòi chia cắt đất nước thành nhiều khu vực nhỏ. Giải đất ở Bắc Trung Bộ, nói chung, đồng bằng ven biển khá hẹp. Đây là khu vực biên giới, nhiều vùng mới chiếm được còn man rợ, bí hiểm 6. Tuy nhiên, việc đi lại giữa vùng châu thổ sông Hồng và vùng đất biên giới này cũng đã xẩy ra nhiều khi khá ồ ạt do những đợt di dân, vận chuyển lương thực, và những đợt kéo hàng vạn quân vào tập luyện, đi đánh Chiêm Thành 7.

Bộ đội hành quân vào Nam

b) Căn cứ vào những cách nói về việc đi lại ở địa bàn này, hiệncòn lưu lại ở tiếngViệt, chúng ta thấy:

– Nói về việc đi lại giữa các điểm trongcùng một vùng, thì vào Nam ra Bắc chỉ được dùng chủ yếu ở Bắc Trung Bộ: ( TừThanh Hoá) vào Nghệ Tĩnh, vào Bình Trị Thiên, ( TừBình Trị Thiên) ra Nghệ Tĩnh, ra Thanh Hoá.. Ở Bắc Bộ, trái lại, chủ yếu dùng lên, xuống, sang, qua: ( TừHà Nội) lên Thái Nguyên, Hà Giang, Lào Cai, Hoà Bình; xuống Quảng Ninh, Hải Phòng, Đồ Sơn, Thái Bình, Hải Hậu,… qua Gia Lâm…nhưng đối với những địa điểm sắp dẫn vào đất Bắc Trung Bộ thì lại dùng vào, ra ví dụ: vào Ninh Bình.

– Khi nói về việc đi lại giữa haiđiểm khác vùng (một bên thuộc Bắc Bộ, một bên thuộc Bắc Trung Bộ) thì bao giờ cũng dùng vào/ra được:

– ( TừBắc Bộ) có thể vào bất kỳ chỗ nào ở Bắc Trung Bộ;

– ( TừBắc Trung Bộ) có thể nói ra bất kỳ chỗ nào ờ Bắc Bộ.

c) Như vậy, lối nói vào Nam/ Ra Bắc chắc được sản sinh khi nói về việc đi lại trên trục đường châu thổ sông Hồng – vùng Bắc trung Bộ; và chắc lúc đầu sự đối lập vào/ra cũng không gắn liền với sự đối lập về phương hướng Nam/Bắc: chứng cớ là trên những trục đường đúng hướng Nam/Bắc như Hà Nội - Bắc Cạn, hoặc Hà Nội - Lạng Sơn người ta vẫn nói lên/xuống chứ không nói vào/ra, ví dụ: ( TừHà Nội) lên Thái Nguyên, ( TừBắc Ninh) xuống Từ Sơn, v.v... Có thể phỏng đoán rằng:

– Lúc đầu chỉ có những câu nói cụ thể như ( TừKẻ Chợ) vào Bố Chính, vào Thuận Hoá; ( TừThuận Hoá) ra Nghệ An, ra Đông Đô, v.v...

– Đi vào nơi hẹp, kín, bí hiểm, tận cùng mà dùng Vào, Vào trong..., đi ra nơi rộng thoáng mở mang mà dùng ra, ra ngoài..., điều đó hoàn toàn phù hợp với nội dung ngữ nghĩa của haiđộngtừnày. Đặt những câu như vậy hoàn toàn không có gì xa lạ so với lối nói quen thuộc như vào ngõ, vào cổng, vào trong góc, vào trong hang, vào trong rừng/ra khơi, ra đồng, ra ngoài sân, ra ngoài bãi… Những cách đặt câu như vậy, ngày nay chúng ta vẫn dùng, so sánh với: vào Cúc Phương, vào U Minh; ra Sầm Sơn, ra Vũng Tàu…

– Nhưng do một sự tình cờ của địa lý, giải đất hẹp, bí hiểm vùng biên giới lại ở phía Nam, chỗ đồng bằng rộng thoáng, mở mang lại ở phía Bắc, cho nên những lối nói có vào/ra như trên lại ngẫu nhiên mang thêm một nét nội dung mới: nói vào một địa điểm X là nói đi về phía Nam hơn, so với đồng bằng Bắc Bộ; và nói ra một địa điểm là nói đi về phía Bắc hơn so với các vùng Nghệ Tĩnh, Bình Trị.

– Rồi về sau, do sự mờ nhạt dần của một khía cạnh ngữ nghĩa vốn quan trọng lúc ban đầu (khía cạnh “vào nơi hẹp, ra nơi rộng” mờ nhạt dần vì từNghệ An vào Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị hay từThừa Thiên ra Quảng Trị, đâu đâu giải đất đồng bằng ven biển cũng hẹp cả) nên ý nghĩa nam/bắc lại dần dần nổi rõ hẳn lên, để cuối cùng đưa đến khả năng khái quát thành vào Nam/ra Bắc.

– Cố nhiên tình hình từđầu thế kỷ 15 đến nay cũng càng ngày càng góp phần củng cố thêm cho lối nói đó: sự ra đời của những tên đàng Ngoài hoặc Nam Hà/ Bắc Hà (thời Trịnh, Nguyễn), sự phân vùng địa lý thành ba kỳ Bắc – Trung – Nam (triều Nguyễn) đều là những nhân tố, theo ý chúng tôi, có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức bắc/nam của người nói, và đến cách dùng những từvào/ra, trong/ngoài của họ. Địa danh có mang những yếu tố nam, bắc nhất định phải có ảnh hưởng trực tiếp hơn là haiphương hướng ấy 8.

Cuối cùng, cũng cần nhấn mạnh thêm một điều: là đứng trước những lối nói ra Bắc/vào Nam, Ra ngoài Bắc/vào trong Nam, không nên nghĩ đến một hướng bắc, một hướng nam xác định đơn thuần chỉ dựa theo la bàn. Trongviệc đi lại, điều kiện quan trọng nhất là các trục đường giao thông chính. Từmột điểm A đến một điểm B, nếu quả có một đường giao thông về cơ bản làm nổi rõ cái trục Bắc - Nam thì lúc đó mới có thể dùng haiđộngtừvào, ra cũng như haitừchỉ vị trí trong - Ngoài được. Không có điều kiện đó thì người ta thường dùng những lối nói khác. Một ví dụ để minh hoạ: theo la bàn, huyện Thanh Chương ở phía Bắc huyện Hương Sơn, nhưng đường giao thông chính lại đi vòng từThanh Chương xuống Vinh (hướng Tây-Đông), sau đó từVinh vào Đức Thọ (hướng Bắc-Nam), rồi cuối cùng lại từĐức Thọ lên Hương Sơn (hướng Đông-Tây). Tronghoàn cảnh đó vị trí đối đãi Bắc/Nam giữa haihuyện bị lu mờ, người dân thường không nhận thức được. Cố nhiên, từxưa giữa Hương Sơn và Thanh Sơn vẫn có một lối đi quen thuộc, nhưng đó không phải là một trục đường chính mà chỉ là một con đường mòn đi tắt, phải vượt qua truông. Chính vì vậy, trongviệc đi lại giữa haihuyện người ta không dùng Vào/Ra mà người ta lại dùng sang, qua: sang (bên) Hương Sơn, qua (bên) Thanh Chương..,

Có điều, có đường giao thông chính theo trục Nam/Bắc cũng mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ. Nếu có những đặc điểm địa hình khác nổi rõ hơn (ví dụ có sự đối lập cao/thấp, có đặc điểm vượt sông, vượt đèo, v.v...) thì lúc ấy sự đối lập Nam/Bắc cũng bị lu mờ trongtâm lý người nói, và vào/ra cũng phải nhường chỗ cho lên/xuống hoặc sang, qua, v.v...Ví dụ: ( TừHà Nội) sang Gia Lâm – ( TừBến Súc) lên Lộc Ninh.

Đã có trường hợp sự đối lập nam/Bắc bị lu mờ trongthực tế thì tất có trường hợp trongthực tế vốn không có Nam/Bắc, nhưng ở người nói lại nhận thức là có, ví dụ ở quãng đường Xuân Lộc - Phan Thiết. Thực ra đây là một đoạn đường chủ yếu đi theo hướng Đông-Tây. Nhưng đã chia toàn quốc thành ba vùng Nam, Trung, Bắc thì tự nhiên trongnhận thức của người nói, từXuân Lộc ra Phan Thiết, người ta vẫn nghĩ là đi theo hướng ra Bắc, và từPhan Thiết vào Xuân Lộc người ta vẫn nghĩ là đi theo hướng vào nam.

Tóm lại sự đối lập Nam/Bắc theo la bàn với sự đối lập Nam/Bắc trongnhận thức người nói không thể hoàn toàn đồng nhất làm một. Muốn nói được vào/ra phải có điều kiện làm nổi rõ được thế đối lập Nam/Bắc ở trongnhận thức người nói: ví dụ phải có đường giao thông chính theo trục đó, hoặc phải có sự hỗ trợ của thế phân vùng hành chính địa lý thành Nam-Trung-Bắc, và nhất là phải vượt qua được sự cạnh tranh của các đặc điểm địa lý khác.

Tất cả những điều nói trên hiệnđưa đến hậu quả như sau:

a) Trongđịa bàn ViệtNam, khi nói đến việc đi tới một địa điểm xa, khác vùng thì bao giờ cũng dùng Vào/Ra (và trong/ngoài được):

– ( TừBắc Bộ) có thể nói vào bất kỳ chỗ nào ở Trung Bộ, Nam Bộ;

– ( TừNam Bộ) có thể nói ra bất kỳ chỗ nào ở Trung Bộ, Bắc Bộ;

– ( TừTrung Bộ) có thể nói vào bất kỳ chỗ nào ở Nam Bộ, và ra bất kỳ chỗ nào ở Bắc Bộ.

Nhưng khi nói đến việc đi lại giữa điểm này điểm khác trongcùng một vùng thì vào/ra chỉ dùng với các điểm ven đường quốc lộ thuộc Trung Bộ, hoặc nằm trên đoạn đường sắp dẫn sang đất Trung Bộ. Ngoài ra hầu như chỉ dùng sang, qua, lên xuống. So sánh:

– ( TừHà Nội) Lên Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Lao Cai, Hoà Bình..., Xuống Quảng Ninh, Hải Phòng, Đồ Sơn, Thái Bình, Hải Hậu... nhưng vào Ninh Bình (vì Ninh Bình dẫn vào Trung Bộ).

– ( TừHuế) ra Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Vinh, Thanh Hoá... vào Hội An, Bình Định, Qui Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết...

– ( Từthành phố Hồ Chí Minh) lên Biên Hoà, Lộc Ninh, Tây Ninh... xuống Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau... nhưng có thể nói ra Xuân Lộc (vì Xuân Lộc dẫn ra Trung Bộ).

b) Khi ra nước ngoài, bước vào một hoàn cảnh địa lý xa lạ, khác hẳn cái hoàn cảnh địa lý đã sống, đã vào sâu trongnhận thức ở ViệtNam, thì người Việtbắt buộc phải từbỏ lối nói gắn ra với Bắc, Vào với Nam vốn đã quen thuộc ở trongnước. Vào Nam, Ra bắc, trong Nam, ngoài Bắc tuy là lối nói phổ biến, nhưng chúng chỉ dùng phổ biến trongphạm vi địa lý ViệtNam mà thôi.

Chú thích:

1. Gọi “di chuyển có định hướng” là để phân biệt với các độngtừnhư chạy, nhảy, bơi,bay v.v... Xin xem các công trình của I.S. Bưxtrop ( Tư liệu về sự phân loại độngtừtrongtiếngViệt, Thông báo khoa học trường Đại học Tổng hợp Leningrat,1962, số 306, tiếngNga); I.S. Bưxtrop, Nguyễn Tài Cẩn N.V. Stankevitch (Ngữ pháp Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đạihọc tổng hợp Leningrat, 1975, tiếngNga); Nguyễn Lai (Một vài đặc điểm của nhóm từchỉ hướng được dùng ở dạng độngtừtrongtiếngViệthiệnđại,tạp chí Ngôn Ngữ,số 3, 1977).

2. Hồng Đức bản đồ,Sài Gòn 1962 (do nhóm các ông Bửu Cầm, Đỗ Văn Anh, Phạm Huy Thuý, Tạ Quang Phát, Trương Bửu Lâm dịch, giới thiệu).

3. TrongDư địa chícòn ghi Thanh Giang, nhưng ở bia tiến sĩ năm 1409 đã đổi thành Thanh Chương như hiệnnay.

4. Ông còn là người tập hợp bộ Hồng Đức bản đồ.Ông có đưa những con số về phủ, huyện, châu rất lạ, nhưng xét kỹ thì rất đúng: điều này càng chứng tỏ ông nắm chắc tình hình thế kỷ 15.

5. Xin xem thêm: Nguyên Thanh ( Thử cắt nghĩa nguồn gốc củathành ngữ ra Bắc, vào Namtạp chí Đoàn kếttháng 2.1989, số 410).

6. Vì lý do này xưa mới gọi là “trại”.

7. Theo tài liệu lịch sử, có những đợt di dân như năm 1075, 1402..., những đợt vận chuyển lương thực như năm 1376, và rất nhiều đợt kéo quân vào tập luyện, đánh Chiêm Thành (1104, 1252, 1311, 1318, 1353, 1367, 1376-1377, 1383, 1402, 1403...).

8. Lộ Nam Giới hay Quảng Nam thừa tuyên là địa danh chỉ vùng đất từThừa Thiên đến khoảng Qui Nhơn. Có tên Nam Giới thì có thể nói Vào Nam như kiểu nói Ra Thanh, Ra Nghệ; với tên nói Quảng Nam thừa tuyên vẫn có khả năng dùng Nam để chỉ toàn vùng như vậy: hiệnta vẫn thường nói Vào Bình, Trị, Thiê; vào Nam, Ngãi...

Về ảnh hưởng của địa danh, ngay tình hình gần đây vẫn cho thấy rõ: lối nói Lên Kontum, lên Pleiku, có phần phổ biến thêm, lối nói ra Kontum, ra pleiku, có phần giảm bớt đi; vì sau 1954, về hành chính, không chia thành Trung Bộ, Nam Bộ như trước.


Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy VUSTA trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng)
Ngày 27/3, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026 và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng). Sự kiện không chỉ là dịp ghi nhận những cống hiến của các đảng viên lão thành mà còn là diễn đàn quan trọng đánh giá kết quả công tác Quý I, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026 của Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam.