Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 30/06/2014 16:18 (GMT+7)

Dự báo mức độ tổn thương môi trường ven biển Việt Nam

Nước biển dâng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc gia tăng mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường, cụ thể diện tích vùng có mức độ tổn thương cao theo kịch bản nước biển dâng một mét sẽ tăng hơn ba lần so với kịch bản là 0,5 mét, nơi bị tác động mạnh nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mật độ đối tượng bị tổn thương cao tập trung các vùng có nhiều khu công nghiệp, đô thị, du lịch, diện tích đất ngập nước, rừng ngập mặn lớn, mật độ dân cư đông. Mức độ tổn thương cao tập trung ở các vùng tác động mạnh bởi bão, lũ lụt, xói lở, mật độ đối tượng bị tổn thương cao và khả năng ứng phó thấp; khả năng ứng phó cao tập trung vùng có địa hình cao, hệ thống đô thị, cơ sở hạ tầng tương đối mạnh và trình độ dân trí cao.

Bên cạnh đó, nếu so sánh mức độ tổn thương theo kịch bản phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015 và 2020, có bốn vùng cơ bản như sau: Vùng thấp ở vùng đất ven biển cách bờ từ 8 đến 10 km; vùng trung bình phân bố rải rác, không tập trung thành vùng lớn; vùng tương đối cao chiếm phần lớn vùng biển ven bờ; vùng thấp tập trung ở một số khu bảo tồn có đa dạng sinh học cao ở đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng. Như vậy, có thể nói, vùng thấp và trung bình khả năng ứng phó xã hội sẽ tăng, ở vùng trung bình sẽ chuyển một số vùng từ mức cao về trung bình. Ở vùng tương đối cao, khả năng ứng phó gia tăng, riêng vùng biển Bạc Liêu, Cà Mau tăng theo thời gian. Vùng cao sẽ chuyển một số vùng ven biển từ mức cao xuống tương đối cao và trung bình. Đến năm 2020, diện tích các vùng tương đối cao và cao giảm dần do các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội làm gia tăng khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên - xã hội.

GS, TS Mai Trọng Nhuận, Tổng hội Địa chất Việt Nam cho rằng: Dựa vào các dự báo, quy hoạch "chủ động", tìm kiếm các "giải pháp mềm" để giảm mức độ tổn thương, là cách "trốn chạy khôn ngoan". Đây không phải là vấn đề mới, nhưng cần phải có tầm nhìn xa, sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Các quy hoạch phải dựa vào đánh giá và dự báo mức độ tổn thương để chủ động ứng phó với BĐKH, nước biển dâng, cũng như các tai biến hơn là bị động như hiện nay. Phần cứng là giải pháp công trình như xây dựng và triển khai các trạm quan trắc, mô hình dự báo biến động tài nguyên, môi trường, mức độ tổn thương theo các kịch bản BĐKH, nước biển dâng với độ tin cậy cao... Phần mềm là giải pháp phi công trình, cần vận dụng linh hoạt từ đánh giá, dự báo, quy hoạch đến tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân.

Theo GS, TS Mai Trọng Nhuận, dựa vào đặc thù kinh tế - sinh thái và mức độ tổn thương, quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên - môi trường nên chia thành sáu vùng với các ưu tiên phát triển phù hợp. Vùng ven biển Móng Cái - Đồ Sơn ưu tiên hệ thống cảng biển, du lịch sinh thái như các dự án phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái đặc biệt (rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển...). Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng (Đồ Sơn - cửa Lạch Trường) nuôi trồng thủy sản, phục hồi, bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn và đất ngập nước cửa sông, cải tạo hệ thống đê biển, phòng, chống xói lở và bão lũ. Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (cửa Lạch Trường - mũi Hải Vân) với du lịch kỳ quan địa chất, khu công nghiệp ven biển, cảng biển, vùng ven biển Nam Trung Bộ (mũi Hải Vân - mũi Hồ Tràm) có cảng, trung tâm nghề cá, các khu kinh tế ven biển, du lịch biển. Vùng ven biển Đông Nam Bộ (mũi Hồ Tràm - Gành Rái) phát triển các khu công nghiệp, khai khoáng hoạt động trong lĩnh vực dầu khí và cảng biển, du lịch sinh thái. Vùng ven biển Tây Nam Bộ (Gành Rái - Hà Tiên) nuôi trồng thủy sản, các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng biển. Hai vùng đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng rất quan trọng với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh lương thực nhưng bị tổn thương cao nhất, bởi vậy phải có chiến lược thích ứng khi nước biển dâng cao. Giải pháp quan trọng nhất là quy hoạch sử dụng đất, quản trị thích ứng phù hợp với các kịch bản dâng cao mực nước biển ở mức 0,5 và 1 m. Với tầm nhìn chiến lược và triết lý ứng phó khôn ngoan với BĐKH, quỹ đất phải để dành cho việc di dân vùng đất thấp, sẽ bị ngập, cũng như phát triển các công trình liên quan...

Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, với phương châm dự báo trên cơ sở thu thập dữ liệu chính xác nhằm ngăn chặn và chủ động thích ứng, Việt Nam cần đẩy mạnh nghiên cứu các giải pháp "cứng và mềm" để hạn chế tác động bất lợi, tận dụng cơ hội nếu có của BĐKH. Tinh hoa truyền thống của văn minh trị thủy, văn minh lúa nước của người Việt Nam cũng cần được nghiên cứu và vận dụng, ứng phó phù hợp từng vùng, miền về điều kiện tự nhiên, thiên tai, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực. Các giải pháp ứng phó với thiên tai, nước biển dâng, BĐKH cần đưa vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển của từng vùng phù hợp với mức độ tổn thương hiện tại và trong tương lai.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.