Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 30/08/2010 18:10 (GMT+7)

Đồng bằng sông Cửu Long: Vùng kinh tế trọng điểm thứ tư của Việt Nam

Tiềm năng phát triển và thực trạng kinh tế - xã hội vùng

Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL nằm ở cực Nam của Tổ quốc gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Toàn vùng rộng 16.260 km 2, chiếm 5% diện tích cả nước, 18,4% diện tích các vùng KTTĐ, với dân số năm 2008 khoảng 6,4 triệu người, bằng 7,4% dân số cả nước và bằng 15% dân số các vùng KTTĐ.

Vùng có vị trí địa kinh tế quan trọng, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và giao thương với khu vực. Nằm ở cực Nam của Tổ quốc, tiếp giáp với Campuchia thông qua vịnh Thái Lan; giáp với biển Đông với bờ biển dài. Đây là điều kiện thuận lợi phát triển giao lưu thương mại và du lịch với khu vực.

Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng KTTĐ nói riêng, là một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất lương thực, nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản và vùng cây ăn trái nhiệt đới rộng lớn. Điều kiện thuận lợi để sản xuất gạo, thủy sản cho tiêu dùng và xuất khẩu.

Tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nhân văn của vùng khá phong phú, phục vụ tốt cho phát triển kinh tế và du lịch. Nhờ có tài nguyên về dầu khí, vùng đã và sẽ là trung tâm năng lượng lớn của cả nước với ba trung tâm điện lực: Ô Môn, Cà Mau, Kiên Lương với tổng công suất khoảng 9.000 - 9.400 MW và cung cấp khí đốt từ các mỏ khí Tây Nam. Ngoài ra còn có đá vôi ở khu vực Hà Tiên, Kiên Lương (Kiêng Giang); đá Andezit, granit (An Giang),… Những di tích lịch sử, văn hóa, phong cảnh đẹp phân bố đều trên toàn địa bàn, tạo cho vùng tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế du lịch.

Hệ thống đô thị trong vùng khá phát triển, trong đó có thành phố Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương. Cơ sở hạ tầng đã từng bước hoàn thiện, đã, đang và sẽ tạo sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời thu hút lực lượng lao động từ vùng nông thôn tới làm việc, tạo cục diện mới cho tăng trưởng kinh tế và giao thương quốc tế.

Trong giai đoạn vừa qua, theo số liệu thống kê từ 4 tỉnh trong vùng, tốc độ tăng trưởng của vùng đạt khá cao, bình quân 11%/năm giai đoạn 2001 - 2005 và 13,5%/năm giai đoạn 2006 - 2008. Tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt khá cao so với bình quân chung của cả nước, và có xu hướng giảm dần. Tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có xu hướng tăng lên.

Cơ cấu kinh tế của vùng đã có sự chuyển dịch, tuy còn chậm song đã theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn còn cao, nhưng đã giảm từ 43% năm 2000 xuống 35,5% năm 2008.

Về sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản: Đã hình thành một số sản phẩm chủ lực, quy mô lớn như lúa, tôm, cá. Các sản phẩm nông nghiệp trên chiếm tỷ trọng lớn so với vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như so với cả nước (sản lượng lúa năm 2008 đạt 8,5 triệu tấn, bằng 21,5% lúa cả nước; sản lượng thủy sản năm 2008 đạt 1.184 nghìn tấn, chiếm 28,2% sản lượng thủy sản cả nước).

Ngoài ra trên vùng KTTĐ còn trồng các cây ăn quả có múi: nhãn, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng,… Tới nay, sản xuất cây ăn quả trong vùng còn gặp những khó khăn, hạn chế về chế biến, bảo quản, thị trường tiêu thụ… nên việc cải thiện, nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển nhóm sản phẩm này của vùng.

Về công nghiệp: Tốc độ tăng trưởng của ngành trong giai đoạn 2006 - 2008 đạt 17,4%, đóng góp 25 - 26% GTSX toàn vùng. Một số sản phẩm có tốc độ tăng trưởng khá như xi măng, thủy sản đông lạnh, chế biến thức ăn gia súc, phân bón hóa học, xà phòng, giày dép, sản xuất nông cụ cầm tay,… Trên địa bàn vùng KTTĐ đã triển khai các dự án công nghiệp có quy mô vùng và cả nước như dự án khí - điện - đạm Cà Mau, cơ sở sản xuất xi măng,… Hiện nay đang xây dựng nhà máy nung clinker công suất 450.000 tấn/năm.

Đã hình thành các khu công nghiệp như Trà Nóc 1, Trà Nóc 2, Hưng Phú 2 (thành phố Cần Thơ); Vàm Cống (An Giang); Thạnh Lộc, Thuận Yên (Kiên Giang); KCN Hưng Phú 1, Hưng Phú 2 tại Cần Thơ. Ngoài các khu công nghiệp tập trung, đến nay đã hình thành nhiều cụm công nghiệp ở 4 tỉnh trong vùng.

Về dịch vụ, thương mại: Những năm gần đây, hoạt động thương mại tại các địa phương trong vùng phát triển mạnh, nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ mới phát triển. Cùng với mở thêm mạng lưới chợ, các siêu thị, trung tâm thương mại được xây dựng và đi vào hoạt động, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật được củng cố và phát triển đáng kể. Hệ thống siêu thị đã hình thành tại các đô thị trong vùng: thành phố Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau, Long Xuyên. Các chợ nông thôn, nhất là các chợ nông sản, thủy sản… được xây dựng, nâng cấp, phân bố tương ddooios hợp lý trên các địa bàn. Hoạt động các chợ biên giới khá nhộn nhịp. Đến nay, tại khu vực biên giới giữa các tỉnh An Giang và Kiên Giang với Campuchia đã và đang hình thành các khu kinh tế cửa khẩu An Giang và Khánh Bình (An Giang), khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên (Kiên Giang).

Hoạt động xuất khẩu tăng nhanh, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủy sản, gạo; thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2008 đạt 2.735 triệu USD, chiếm 6,5 - 7% cả nước.

Du lịchđã được quan tâm đầu tư phát triển. Cơ sở vật chất của ngành du lịch như hệ thống khách sạn, nhà hàng, trung tâm hội nghị,… được nâng cấp, xây mới. Các khu, điểm du lịch được xây dựng, cải tạo và đưa vào khai thác những hoạt động du lịch mới để hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Điểm nổi bật nhất là Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án phát triển đảo Phú Quốc thành trung tâm du lịch sinh thái lớn của cả nước, khu vực và thế giới.

Về các lĩnh vực xã hội: Thời gian qua cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, văn hóa,… đã được chú ý đầu tư cải tạo và xây mới. Điều đó tuy chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển song cũng đã góp phần giải quyết nhu cầu trước mắt, tạo điều kiện để phát triển kinh tế.

Trong vùng có 3 trường đại học, Đại học Cần Thơ, Đại học An Giang, Đại học Y Dược Cần Thơ. Tại các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau có các trường cao đẳng. Ngoài các trường đại học và cao đẳng, trên vùng còn có các cơ quan nghiên cứu trực thuộc các Bộ, ngành như Viện nghiên cứu Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Cây ăn quả Miền Nam, Viện Nghiên cứu và Phát triển hệ thống canh tác, Phân viện nghiên cứu Thủy sản Minh Hải, Viện Khoa học Thủy sản, Viện Môi trường và phát triển bền vững. Trường ĐH Cần Thơ có Viện Công nghệ Sinh học và Viện Nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long.

Hiện tại trong vùng mới có 1 bệnh viện tuyến Trung ương là Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ và Bệnh viện 121 do Quân khu 9 quản lý. Các tỉnh đã có bệnh viện đa khoa và một số bệnh viện chuyên khoa như y học cổ truyền, phụ sản - nhi, lao và bệnh phổi, da liễu, mắt - răng hàm mặt, tai mũi họng, tâm thần… Ngoài các cơ sở y tế công lập, đến nay, trên địa bàn có bệnh viện đa khoa tư nhân đang hoạt động.

Tuy so với nhu cầu phát triển còn thiếu nhiều song hiện các tỉnh trong vùng đã có các nhà văn hóa, trung tâm văn hóa thông tin, trung tâm triển lãm văn hóa, thư viện trung tâm, bảo tàng. Tại các tỉnh đã có các công trình thể dục thể thao cơ bản là sân vận động, bể bơi, nhà thi đấu.

Về kết cấu hạ tầng: Hệ thống giao thông của vùng khá phong phú, gồm cả đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Kết cấu hạ tầng giao thông đã từng bước được cải thiện.

Các quốc lộ chính và các tuyến đường quan trọng trong vùng gồm Quốc lộ 1A kết nối vùng KTTĐ với TP.Hồ Chí Minh và nội vùng (Cần Thơ - Cà Mau), quốc lộ 91, quốc lộ 80, tuyến Nam Sông Hậu, Quản Lộ - Phụng Hiệp, một số tuyến đường trên đảo Phú Quốc đã được nâng cấp, mở rộng.

Đường thủy bao gồm 2 tuyến đường thủy chính nối với TP. Hồ Chí Minh là tuyến TP. Hồ Chí Minh - Cà Mau và TP. Hồ Chí Minh - Kiên Lương. Khó khăn nhất là các cầu qua sông còn thiếu và hạn chế nhiều.

Hiện nay, trong vùng có 4 sân bay, bao gồm các sân bay: Trà Nóc (Cần Thơ); Cà Mau (tỉnh Cà Mau); Rạch Giá và Dương Đông (Phú Quốc - Kiên Giang). Sân bay trong vùng đã góp phần đẩy nhanh giao lưu kinh tế, thương mại và đầu tư giữa vùng và trung ương cũng như các trung tâm kinh tế khác.

Phương hướng phát triển.

Định hướng cơ bản phát triển kinh tế - xã hội vùng đã được khẳng định rất rõ trong Quyết định số 492 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu tổng quát là: " Xây dựng Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh, các mặt văn hóa, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vững chắc".

Một số mục tiêu cụ thể:

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2009 - 2010 của vùng đạt gấp khoảng 1,2 lần và thời kỳ 2011 - 2020 gấp khoảng 1,25 lần tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước. Tỷ lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước khoảng 11,6% năm 2010 và 13,3% năm 2020.

- Đến năm 2010 khu vực nông lâm thủy sản chiếm 29,4% và giảm xuống 15% năm 2020; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 28,7% năm 2010 và tăng lên 40% năm 2020; khu vực dịch vụ chiếm 41,9% năm 2010 và tăng lên 45% năm 2020.

-GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1.200 USD năm 2010 và khoảng 3.000 USD vào năm 2020.

- Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người/năm lên 490 USD năm 2010 và 1.900 USD năm 2020.

- Tốc độ đổi mới công nghệ trong tiến trình hiện đại hóa, đạt 20%/năm.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ khoảng 38% năm 2010 và đạt khoảng 65% vào năm 2020.

- Tỷ lệ đô thị hóa của vùng đạt 33,8% vào năm 2010 và 46% năm 2020.

Để khai thác tiềm năng và thế mạnh của các tỉnh, thành phố trong vùng và thực hiện được các mục tiêu đã đề ra cần quan tâm phát triển các ngành, lĩnh vực chính như sau:

Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản: Cần xây dựng và khai thác có hiệu quả hệ thống các công trình thoát lũ phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Quy hoạch thủy lợi, phối hợp với việc sử dụng nguồn nước sông Hậu có hiệu quả. Kết hợp tốt giữa sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và phục vụ dân sinh.

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ - kỹ thuật cao, phát triển vùng lúa chất lượng cao, vùng rau an toàn, cây ăn trái sạch bệnh.

Kiểm soát chặt chẽ, phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, vệ sinh thực phẩm và khuyến nông, khuyến ngư. Tập trung hỗ trợ cho nông dân trong việc chuyển giao các ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm; tập trung nguồn lực để các Viện, Trường, Trung tâm nghiên cứu các giống cây, con chất lượng cao, đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu.

Phát triển thủy sản xuất khẩu. Hợp tác ứng dụng chuyển giao khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực thủy sản, đặc biệt trong lĩnh vực giống thủy sản.

Tăng cường hợp tác xúc tiến thương mại, đầu tư và trao đổi thông tin thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp.

Phát triển công nghiệp: Quy hoạch phát triển các nhà máy chế biến thủy sản đạt trình độ xuất khẩu. Liên kết giữa nguyên liệu và chế biến, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp.

Khai thác hiệu quả các khu công nghiệp, khu kinh tế. Hợp tác trao đổi thông tin, kinh nghiệm về xây dựng cơ chế chính sách thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế.

Vận động và kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành công nghệ cao, công nghệ sinh học và đầu tư sản xuất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu và phát triển công nghiệp nông thôn.

Thương mại, dịch vụ, du lịch: Hình thành các trung tâm thương mại lớn của vùng như siêu thị, hội chợ, chợ đầu mối, sàn giao dịch nông - thủy sản. Hợp tác xây dựng hệ thống kho dự trữ và bảo quản nông, thủy sản sau thu hoạch.

Phối hợp trao đổi thông tin thị trường và xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, chú trọng thị trường ASEAN.

Hợp tác đầu tư hình thành phát triển các cụm du lịch, tuyến du lịch, các tuor du lịch liên vùng. Phối hợp tuyên truyền, giới thiệu hình ảnh của từng địa phương và đẩy mạnh hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch. Phối hợp trong việc tổ chức định kỳ "Liên hoan du lịch Đồng bằng sông Cửu Long".

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.