Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 02/07/2007 15:13 (GMT+7)

Đồng bạc Đông Dương

Đơn vị tiền tệ của nước ta hiện nay “đồng” (bách phân: tức 100 xu) khác hẳn đồng tiền ngày xưa (“Một quan là 600 đồng”: tiền thời phong kiến), cũng như khái niện “đồng (bạc)”, là một loại hình tiền tệ được người châu Âu đưa vào dùng ở vùng Đông Á từ thế kỷ XVIII, trong đó có nước ta…

Thật vậy, trong quyển nhật ký năm 1749, Pièrre Poivre đã kể cho chúng ta sự việc ông tìm cách làm cho đồng tiền châu Âu mà chủ yếu thời đó là đồng Hispan (Tây Ban Nha) được lưu hành ở Phú Xuân.

Ngày 1 tháng 10 năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), chúa Nguyễn Phúc Khoát công bố một đạo dụ (1)giới thiệu đồng bạc Pháp tròn có đóng dấu “thông bảo” và tên 1 trong 3 thợ kim hoàn (Xuân, Tiêm, Thiêm) mỗi đồng ăn 1 quan 3 tiền ta (780 đồng tiền), ngoài ra còn có đồng bạc vuông (mà Pièrre Poivre có nói là bạc Mexique). Đồng này trị giá 1 quan 2 tiền 48 đồng (768 đồng).

Tuy chúa có dụ như vậy, nhưng người Việt ta thời ấy với nền tiểu nông buôn bán nhỏ, chưa quen với nền kinh tế hàng hoá đại mậu dịch quốc tế, rất ít sử dụng đồng tiền bằng bạc rất lạ nên Pièrre Poivre cho rằng: “Ở xứ này, họ không biết giá trị đồng piastre của chúng ta” (2).

Thế rồi dần người Việt ta cũng quen với những đồng bạc này, vì thực tế, năm 1993, anh Trần Tiễn Tâm, ngụ cư Thanh Hà (Minh Hương, Thừa Thiên Huế), trong công việc đồng áng đã đào được nhiều loại tiền bằng bạc của Tây phương cùng nhiều nén bạc thời chúa Nguyễn. Tôi có đến xem thấy phần lớn là tiền Hispan (Tây Ban Nha) và Belg (Bỉ), đồng xưa nhất là năm 1741 và mới nhất là 1759. Theo một chủ buôn tiền ở Saigonnói, lô tiền bằng bạc này hơn cả 500 đồng được bán ra!

Và đến đầu thế kỷ XIX, tức thời Gia Long, “ Hàng… theo John White [A Voyage to Cochinchina] kể, thì định giá theo quan,… nhưng khi mua hàng mà trả bằng đồng đô la I-pha-nho (bạc đồng mà lái mang đến để mua hàng) thì lại dễ mua hơn…” (3).

Rồi ngày 10/4/1862, sau khi mới chiếm được Nam kỳ, Thiếu tướng Bonard (Tổng chỉ huy liên quân Pháp – Tây Ban Nha) đã họp ký quyết định xác định tính hợp pháp để cho lưu hành đồng bạc Mexicana (Mễ Tây Cơ – Mê Hi Cô).

Nhưng đến năm 1864, để biểu hiện chủ quyền của mình, Pháp định cho lưu hành đồng 5 France của Pháp để thay đồng Mexicana (dân gian thường gọi là “đồng bạc con cò”) nhưng thất bại, bởi đồngbạc này quá trình lưu hành, nếu chỉ dùng số tiền nhỏ, dân gian đành phải chặt đồng bạc thành 4 hoặc 8 phần bé nhỏ để tính như bạc lẻ mà vẫn được tín dụng:

Anh ham (chi) đồng bạc con cò?

Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa?

Song chàng trai lại trả lời:

Cưới em bằng bạc con cò,

Đâu phải hẹn hò, nói chuyện đẩy đưa?!

Trước tình hình đó, áp dụng đạo luật ngày 24/6/1875 của Quốc hội Pháp quy định về sự phát triển của hệ thống ngân hàng thuộc địa, ngày 21/1/1875, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Banque de l’Indochine (Ngân hàng Đông Dương - chữ Hán đọc là Đông Dương Hối lý Ngân hàng), trụ sở đặt tại Paris với số vốn ban đầu là 8 triệu france. Ngân hàng này có vai trò đặc biệt, ngoài việc tạo ra một đồng tiền cho thuộc địa Pháp, còn cắm mốc cho “trái tim và khối óc của nền kinh tế Đông Dương” (4).

Bạc Đông Dương

Ban đầu, người ta dự định chỉ thiết lập hai chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương tại Saigonvà Pondichéri (Ấn Độ). Ngân hàng này có đặc quyền trong 20 năm, nhưng sau được gia hạn thêm nhiều lần và ngày 20/12/1880 có sắc lệnh được đặc quyền phát hành luôn cả ở Trung kỳ, Bắc kỳ, Cambodge và Nouvelle Calédonie (quần đảo thuộc địa Pháp ở Thái Bình Dương).

Ngày 9/3/1878, Bộ Tài chính Pháp quyết định thành lập một tiểu ban xét vấn đề tiền tệ cho Nam kỳ, đã đề xuất phải phát hành một đồng tiền bằng bạc theo chế độ ngân bản vị như đồng Trade Dollar của Mỹ có giá tị quốc tế, trọng lượng 27,2156 gram và tuổi bạc là 0,900.

Ý kiến này được Bộ Hàng hải và Thuộc địa Pháp chấp nhận, và ra quyết định ngày 24/12/1878, bắt đầu cho đúc đồng “Piestre de Commerce – Cochichine Francaise” mang năm đúc 1879 (và sau này còn đúc vào năm 1885) có ghi rõ trên đồng tiền chuẩn bạc “Titre 0,900” và trọng lượng “Poids 27,2156 gram”; và các đồng bạc lẻ gồm 10 Cents, 20 Cents, 50 Cents mang năm đúc 1879 (và sau này còn đúc vào năm 1884, 1885), với giá trị 100 Cents (xu) là 1 piastre (đồng bạc).

Cũng bởi đồng bạc có ghi rõ địa phận lưu hành là “Cochichine – Francaise” (Nam kỳ thuộc Pháp), khó được chấp nhận ở miền Bắc hoặc ở miền Trung, do vậy năm 1883, Bác sĩ Harmand - được Chính phủ Pháp cử làm Tổng uỷ viên ký hoà ước Qúi Mùi – đã cưỡng bức triều đình Huế phải cho các đồng tiền Maxicana và tiền Ngân hàng Đông Dương được lưu hành song song với tiền Việt Nam. Luôn theo đó, các đồng tiền ngoại nhập có giá trị quốc tế như đồng Trade Dollar Mỹ, đồng Dollar Anh, đồng Yen và Trade Dollar của Nhật, các đồng 5 France của các nước châu Âu… đã mặc sức tung hoành trên thị trường Đông Dương.

Kết quả là tại Đông Dương, ngoài sự lưu hành tiền truyền thống Việt Nam do triều Nguyễn đúc, còn có cả những đồng bạc quốc tế, kể cả đồng “nguyên” hoặc “viên” của Trung quốc nữa, tạo “cả một mớ hổ lốn thật sự về tiền tệ, về kim loại về trọng lượng và tỷ lệ kim loại khác nhau được sử dụng cùng một lúc” (5).

Năm 1885, sau khi đã đúc đồng Piastre de Commerce – Cochichine Francaise, thì xảy ra biến cố thất thủ kinh đô Huế, Pháp chiếm được cả Việt Nam, nên cũng trong năm này lại đúc đồng bạc mẫu mới “Piastre de Commerce – Indochine Francaise” (cũng mang năm 1885)! Với trọng lượng và độ bạc cũ. Đợt này đúc 50.000 đồng cho Bộ thuộc địa và 400.000 đồng cho Ngân hàng Đông Dương.

Nhưng trên thị trường thế giới, bạc xuống giá, nên ngày 8/7/1895, Pháp ra nghị định rút đồng bạc Đông Dương chỉ còn 27 gram và đúc lại đồng bạc này (do vậy năm 1895 đúc cả 2 loại Piestre de Commerce 27,2156 gram và 27 gram).

Những thế kỷ trước, việc đúc những đồng tiền bằng bạc ở châu Âu là nhờ mua nguyên liệu bạc ở Nhật Bản qua các Công ty Đông Ấn – Hà Lan – Anh – Pháp, nên những đồng bạc thương mại quốc tế có giá trị cao, như năm 1862, hối đoái đến 5,55 franc Pháp. Nhưng sau này vì phương Tây đào được mỏ bạc làm bạc hạ giá, những đồng bạc thương mãi quốc tế đến năm 1892 chỉ còn đổi được 1,92 franc; xứ Đông Dương (trong đó có cả Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản…) khốn đốn vì giá cả leo thang… Bộ Thuộc địa Pháp phải cho thành lập uỷ ban tìm hiểu kinh tế tiền tệ Đông Dương để rồi ngày 3/12/1902 có sắc lệnh, Ngân hàng Đông Dương thoả hiệp với chính phủ thuộc địa là không cho lưu hành đồng Mexicana (và cả những đồng tiền bằng bạc khác của quốc tế) ở thị trường Đông Dương).

Bù lại sự thiếu hụt khối lượng tiền lưu hành, năm 1903, Ngân hàng Đông Dương đúc tại Paris 10 triệu 200 ngàn đồng Piastre de Commerce; đồng thời ngày 30/1/1903 chính phủ Pháp ra nghị định “cấm xuất cảng những đồng bạc thương mãi và những thỏi bạc”. Và để tiếp tục củng cố chính quyền Pháp tại Đông Dương, ngày 3/10/1905 lại có thêm nghị định nêu rõ “kể từ 1/1/1906, đồng Mexicana không còn giá trị pháp định”.

Trong quá trình phát triển sự độc quyền như vậy, Ngân hàng Đông Dương đã dần thành lập các chi nhánh ở Hải Phòng (1885), Hà Nội (1887), Nouméa (1888), Phnompenh và Đà Nẵng (1891), Trung Quốc (1894), Bangkok (1896), Papeet và Singapore (1904(, Djiboute (1907)… (6).

Nhưng sau Thế chiến thứ nhất, nhất là sau năm 1921, giá bạc hạ liên tục, “vốn đầu tư của chính quốc (Pháp) vào Đông Dương bị tiêu tan cùng lúc với việc hối đoái của đồng franc bị sụp đổ” (7)đồng Piastre de Commerce chỉ đúc đến năm 1928. Rồi sang năm 1929, khủng hoảng kinh tế thế giới chính phủ Pháp phải dành cho Ngân hàng Đông Dương dộc quyền phát hành tiền giấy trong 25 năm, với trữ kim (vàng dự trữ trong ngân khố) bằng 1/3 tổng giá trị khối lượng tiền giấy in ra. Từ đây, đồng bạc Đông Dương bước sang một khúc ngoặt khác…

Kim bản vị

Năm 1930, khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu tấn công Đông Dương. Cần phải ổn định trị giá đồng bạc Đông Dương, một vấn đề nhức nhối, gây bận tâm lớn đối với Pháp… Một giải pháp cải cách mang tính quyết định là phải bó chặt đồng bạc Đông Dương với đồng franc bằng một tỷ số đơn giản.

Sắc lệnh ngày 31/5/1930, đồng bạc được quy định tương đương 655 mg vàng chuẩn độ 90%, tức ăn 10 franc Pháp! Đó là sự đảm bảo bằng vàng, tức đồng bạc Đông Dương từ ngân bản vị chuyển sang kim bản vị! Như vậy, đồng tiền Đông Dương đáng lẽ ra phải được gọi là “đồng vàng” như trên tiền giấy, nhưng bản thân tiền đúc cũng bằng bạc, nên vẫn được quen gọi là “đồng bạc” như cũ.

Đồng bạc Đông Dương này, mẫu mới ghi chữ và số “1 Piastre”, có trọng lượng 20 gram bạc, được lưu hành trên thị trường Đông Dương, còn đồng “Piastre de Commerce” dần được thu hổi. Thật ra, đồng bạc “1 Piastre” này chỉ đúc và phát hành tượng trưng, còn Ngân hàng Đông Dương chủ yếu là phát hành tiền giấy “… đồng vàng” (9).

Trả lời thắc mắc của độc giả, tác giả An Chi, trong mục “Chuyện Đông, chuyện Tây” trên Kiến thức Ngày naysố 183 ra ngày 20/8/1995 (nay tuyển tập trong bộ sách Chuyện Đông, chuyện Tây, NBX Trẻ, Tập 2, tái bản lần 1 năm 2006, mục 277, trng 103, 104) giải thích “đồng bạc hoa xoè” là đồng bạc Đông Dương (Piastre de Commerce), còn “đồng bạc con cò” là đồng bạc Mexicana. Tác giả còn dẫn sách Việt Nam – văn hoá sử cươngcủa học giả Đào Duy Anh để cho rằng đồng bạc Đông Dương được đúc đầu tiên vào năm 1895.

Cách giải thích về cách gọi dân gian của đồng Piastre de Commerce, cũng như năm ra đời như vậy là chưa chính xác…

Trở lại chuyện đồng bạc Mexicana, một mặt có hình con ó biển cổ cong (nên có thể rất dễ nhầm với con cò), tôi chưa hiểu vì sao dân gian lại thường gọi là “đồng bạc con cò” (?!); có lẽ được lưu hành đầu tiên ở Nam bộ là vựa lúa, xứ sở của nền nông nghiệp cò bay thẳng cánh, nên người Việt ta gọi vậy chăng?

Mặt kia của đồng bạc này lại gồm 3 loại khác nhau:

-         Đồng 8 Reed có hình đốm lửa xoè như đoá hoa nở (nhân của đốm lửa là một quả cân).

-         Đồng Un Peso cũng có hình đốm lửa như hoa xoè.

-         Đồng Un Peso cũng có hình đốm lửa như hoa xoè rất nhỏ và hình cái cân.

Chính vì thế, “đồng bạc con cò” còn được gọi là “đồng bạc hoa xoè” hoặc “đồng bạc cái cân”.

Về bộ bạc “Piastre de Commerce”, mặt trước đúc hình bà (đầm – dame) Marianne (biểu tượng nền Tự do của Cộng hoà Pháp) đội vương miện có hào quang toả sáng. Chính vì thế nên dân gian gọi đồng tiền này là “đồng bạc bà đầm” hoặc “đồng bạc đầm xoè” nên rất dễ nhầm với cụm từ “đồng bạc hoa xoè”! Vòng quanh vương miện của bà đầm có hàng chữ Répulicque Franaise, phía dưới ghi năm đúc. Mặt kia, ngoài hàng chữ Piastre de Commerce, còn có ký hiệu “A”, tức đúc tại Paris; ngoài ra còn có hàng chữ Cochichine Francaise hoặc Indochine Francaise, và “Titre 0,900 – Poids 27,215 gram” hoặc 27gram).

Ngoại trừ 2 đồng Piastre de Commerce – Cochichine Franacaise là giai đoạn sơ khai, có mệnh giá cũng như gía trị rất lớn nên chỉ đúc tượng trưng, số lượng rất ít, ngày nay rất hiếm; thì đồng Piastre de Commerce – Indochine Francaise 1890, tôi chưa hiểu vì sao cũng rất hiếm! Do vậy, những đồng này thường được làm giả để bán cho các nhà sưu tập…

Trên các bước đường sưu khảo, tôi đã thấy các hình thức giả sau:

- Tiền giả được đúc bằng đồng hoặc chì rồi mạ bạc, rất dễ phát hiện.

- Một hình thức khá công phu là dùng đồng bạc thật rồi sửa chữ số… Như lấy đồng “Piastre de Commerce – Indochine Francaise 1885” sửa chữ thành Piastre de Commerce – Cochinchine Francaise 1885” , loại này rất khó sửa và thường lỗ liệu; hoặc lấy đồng “Piastre de Commerce – Indochine Francaise 189…” sửa số thành “Piastre de Commerce – Indochine Francaise 1890”. Ngoại trừ việc nhà sưu tập phải xét chữ và số, xem có đúng cùng mẫu chữ số trên đồng tiền thật không, là điều rất tinh vi; nhưng một điều mà những tay giả đã gian song không ngoan là ở chỗ:

Có loại tiền “Piastre de Commerce – Indochine Francaise 1890 – Titre 0,900 – Poids 27 gram” (10). Đó là những đồng Piastre de Commerce – Indochine Francaise 1895 (1896, 1897, 1898, 1899) chỉ “Poids 27 gram” bị sửa số một cách ngốc nghếch, bởi đồng bạc 1890 thật thì phải là “Poids 27,215 gram”.

Lại có đồng “Piastre de Commerce – Indochine Francaise 1620” được đúc bằng công nghệ hiện đại nên rất chuẩn, rồi được giới buôn bán giải thích là tiền thời Alexandre de Rhodes mang sang! Do vậy, nhà sưu tập cũng cần phải có kiến thức cơ bản về lịch sử cũng như lịch sử tiền tệ để khi giải thích khỏi hớ hênh.

Ngoài những đồng bạc “Piastre de Commerce” và đồng “1 Piastre”, Ngân hàng Đông Dương còn đúc các đồng bạc lẻ gồm 10 Cents, 20 Cents, 50 Cents. Tiền mệnh giá nhỏ hơn nữa thì có đồng Two sapeque (1/5 cent), 1 Cen bằng đồng, 5 Cents… cũng rất phong phú và phức tạp… Đặc biệt, để hòa nhập với cộng đồng người Việt, năm 1905, Chính quyền Bảo hộ Bắc kỳ đã cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm, mặt trước ghi chữ Pháp “Protectorat di Tonkin – 1905”, nhưng mặt sau lại ghi bằng chữ Hán là “Lục bách phân chi nhất – thông bảo” có nghĩa là đồng tiền này ăn 1/600 của 1 quan tiền Việt Nam, nên có mệnh giá tương đương với các đồng tiề kẽm do triều đình Huế phát hành.

Và để sưu tập đủ, nghiên cứu tường tận hệ thống tiền lẻ này, phải đảm bảo “nghề chơi cũng lắm công phu!”..

(1) Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ 17, 18 và đầu thế kỷ 19, Nxb Sử học Hà Nội, 1961, tr.149.

(2) Vì đoạn nhật ký này mà một số nhà nghiên cứu về sau đã cho rằng thời Pièrre Poidvre (giữa thế kỷ XVIII) đã có đúc đồng tiền “Piastre de Commerce” điều này là hoàn toàn nhầm lẫn! Chữ “piastre”do Pièrre Poivre viết trong nhật ký mang ý nghĩa khái niệm như một danh từ chung là “đồng tiền bằng bạc” (cũng như khái niệm “đồng tiền” của ta hoặc khái niệm “dollar”) và đồng tiền bằng bạc (piastre) đó chính là những đồng tiền Hispan.. Khác hẳn đồng “Piastre de Commerce” do Ngân hàng Đông Dương – Pháp đúc sau này từ năm 1879, thì chữ “Piastre” ở đây lại là danh từ riêng, mang ý nghĩa là một loại đơn vị tiền tệ.

Riêng điều cho rằng khi Pièrre Poivre xin lưu hành các đồng bạc phương Tây có đóng dấu “thông báo” (hai chữ Hán mang nghĩa “báu tệ lưu hành”) thì cũng chưa đúng hẳn. Thật ra, khi cho lưu hành đồng bạc này, chúa chỉ sai các lò thợ bạc thủ tuổi bạc và chỉ đóng dấu tên các chủ lò bạc vào đồng bạc xem như đã kiểm tra. Chúng tôi đã từng được gặp những đồng tiền có đóng dấu này.

(3) Thành Thế Vỹ, Sđd, tr.145.

Về đồng “đô la I-pha-nho” chính là đồng tiền bằng bạc (dollar) của Hispa (“Tây Ban Nha” hoặc I-pha-nho” chỉ là hai cách ký âm khác nhau của người Trung Quốc đối với chữ “Espana”, những chữ Hispan, Spain cũng là những cách phiên âm tương tự của chữ (Espana”) hoặc đồng bạc Mexicana (Mexique thời trước là thuộc địa của Tây Ban Nha và được gọi là New Spain). Xem thêm khái niệm dollar ở chú thích (2), và sau này, những đồng tiền bằng bạc có giá trị quốc tế đều dùng theo tiếng Anh như Nhật Bản có ngoài đồng Yên, còn đúc cả đồng Trade Dollar, ở các thuộc địa Anh thì có đồng Dollar Anh.

(4) P. Devillers, Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, NXB Seuil, Paris, 1952, tr 46.

(5) C. Regismanset, Le miracle Francaise en Asie, G. Ggrèset Cie, Paris, 1922, P. 313.

(6) Jean Pierre Aumiphin, Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1859 – 1939), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 1994, tr.25.

(7) C. Robequain, Sự biến chuyển kinh tế của Đông Dương thuộc Pháp, Nxb Hartmann, Paris , 1939, tr163.

(8) Nguyễn Văn Cường, “tiền tệ lưu hành tại Việt Nam thời thuộc Pháp”, Huế Xưa và Nay, số 57, tháng 5 – 6/2003, tr.94 – 99.

(9) Xem thêm: Nguyễn Anh HUy, Tiền tệ lưu hành tại Việt Nam qua những biến động lịch sử thế kỷ XX, Hồn Việt, tập 2, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004.

(10) Hội tiền tệ học Quảng tây và Hội nghiên cứu tiền tệ Vân Nam- Việt Nam lịch sử hoá tệ (sách chữ Hán) – Trung Quốc. 1993.


Nguồn: Xưa và Nay, số 274, 12/2006, tr.29

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.