Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 01/10/2010 16:25 (GMT+7)

Diêm dân mùa ngủ đông

Một yến muối, hai ngàn bảy trăm đồng

Chúng tôi về Hải Lộc vào một ngày cuối tháng 11 sau những trận mưa đông vừa dứt. Những cánh đồng muối vắng tanh, chỉ còn một vài người tham việc đang vãi cát tưới nước, hi vọng vớt vát được ít nào. Đã hàng trăm năm nay, người dân nơi đây quen thuộc với muối, quen với những khó khăn vất vả của nghề.

Gặp chị Hà Thị Loát thôn Tân Lộc đang một mình cặm cụi múc nước tưới vào các ô muối, chúng tôi lại hỏi chuyện. Chị bảo: "Chồng tôi đạp xe thồ hơn tạ muối lên Thạch Thành cách nhà 40-50km để bán, nên đi từ sáng vẫn chưa về. Đứa con trai lớn thì làm mãi trong Nam , đứa nhỏ thì đi học. Vì vậy, sáng nay có một mình tôi đi làm”. Ở đây giá muối rất thấp, hơn nữa thường bị tư thương ép giá. Mỗi yến muối có giá khoảng từ 2.700đ - 2.900đ, vào những ngày thường còn vào ngày chính vụ giá muối thấp hơn chỉ được khoảng 2.500đ - 2.600đ/yến. Bình quân một gia đình có hai đến ba lao động thì được hai tạ muối một ngày, bán được 50 - 60.000đ, có gia đình ít lao động thì chỉ được khoảng 20 - 30.000đ. Đấy là những ngày đẹp trời muối làm được nhiều. Còn vào những ngày trời xấu thì được ít hơn, có khi mất trắng. Cứ trông vào đồng muối thì không đủ ăn nên nhiều gia đình có lao động khoẻ mạnh phải thồ muối đi bán, đi đổi ở các nơi thì được giá hơn. Có những gia đình còn dành hẳn một lao động chuyên thu mua của bà con đem đi bán hoặc đi đổi, hoặc cả nhà chuyển sang nghề bán muối rong. Đây cũng là một hình thức làm phụ để kiếm sống và duy trì nghề muối. Trước đây ở làng ngoài nghề làm muối còn có thêm nghề dệt chiếu và thảm cói. Nhưng từ khi thị trường xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ năm 1991 thì nghề đó cũng mai một và không còn thôn nào làm nữa.

Giá muối thấp và bấp bênh như vậy, nhưng công việc của những người dân ở đây thì cực kỳ vất vả. Buổi sáng bắt đầu từ 5 giờ đến 10 giờ, buổi chiều bắt đầu từ 1 giờ đến 6 giờ là những ngày nắng, mùa chính vụ. Còn những ngày bình thường thì bất cứ lúc nào cứ nắng lên là làm, lúc nào cũng phải làm quần quật trên những cánh đồng muối nắng như đổ lửa và hơi muối bỏng rát dưới chân. Vất vả nhất là vào những ngày mưa giông, khi thấy hiện tượng giông là cả làng đổ ra đồng "cứu muối", cố gắng thu được càng nhiều càng tốt. Chạy bở hơi tai thì may còn cứu được một phần, không nhanh là cả một ngày công ra nước hết. Nghề làm muối mỗi năm chỉ có 3 tháng chính vụ, đó là lúc trời nắng nhiều nhất, làm được nhiều muối nhất. Những tháng còn lại thì phải phụ thuộc vào thời tiết nên công việc cũng bấp bênh, thất thường phụ thuộc theo ông trời. Làm muối thu nhập được rất thấp, nhưng vốn đầu tư vào đó cũng không phải là ít. Theo tính toán cứ 3 năm sản xuất thì phải mất 1 năm bỏ tiền công vào tu sửa các ô muối, giếng nước và máng nước... Chưa kể đến các chi phí bỏ ra ban đầu. Rồi đến chuyện đóng thuế, nào là thuế ruộng, thuế thuỷ lợi...cũng rất tốn. Như chị Loát có 700m2 nhưng mỗi năm phải đóng mất gần một triệu bạc. Nhiều gia đình làm muối không có lãi, không đủ tiền nộp thuế, phải lấy tiền của con cái đi làm xa về để nộp. Có lẽ vậy mà ngày càng nhiều người dân không còn mặn mà với nghề muối.

Ngày đầu "ngủ đông"

Bà Nguyễn Thị Duật thôn Trường Nam , có thâm niên làm muối hơn 40 năm tâm sự: "Mấy chục năm gia đình tôi làm việc quần quật vất vả, bán mặtcho đất bán lưng cho giời mà vẫn nghèo. Chắc đến đời con, đời cháu tôi chẳng đứa nào dám theo nghề". Trong thôn của bà ngày càng có nhiều người bỏ nghề, bỏ làng đi tìm việc nơi khác. Mỗi gia đìnhthường có từ 2-3 lao động, nhiều hộ đi cả nhà. Họ ra Hà Nội, vào TP. Hồ Chí Minh, hay chỉ đơn giản là lên TP. Thanh Hoá hay sang các huyện khác để làm thuê làm mướn... Cũng có khi chỉ là tìm một vùngđất mới để định cư, để làm ăn sinh sống. Tất cả mọi người ai cũng muốn trốn tránh, rời xa những cánh đồng muối đã gắn bó bao đời, âu cũng vì miếng cơm manh áo. Tính chung cả làng muối đã mất đi gần50% lao động, mà đa số là những lao động trẻ, khoẻ mạnh. Nhìn những cánh đồng muối bỏ hoang bạt ngàn, thấp thoáng là bóng dáng của những ông bà già, trẻ con mà không khỏi chạnh lòng. Đó là nhữngngười còn lại gắn bó với nghề muối khi không còn nghề gì để sống hay việc gì để làm.

Mang những nỗi niềm ấy, chúng tôi tìm đến UBND xã Hải Lộc, một cán bộ uỷ ban cho chúng tôi biết: Cả xã có 3 làng muối là Tân Lộc, Trường Nam và Trường Sơn. Với tổng diện tích ruộng muối là 63 ha, với tổng số 728 hộ tham gia sản xuất muối, đa số các hộ làm muối thô tự sản xuất và tự tiêu thụ nên giá trị kinh tế rất thấp. Theo kế hoạch phát triển nghề muối từ 2005-2010 của xã thì sẽ chuyển đổi một số diện tích ruộng muối ở những vùng trũng, năng suất thấp, chất lượng kém sang nuôi trồng thuỷ hải sản. Số diện tích còn lại sẽ được quy hoạch và đầu tư để phát triển làm muối sạch, giá trị cao. Nhưng cái khó là không phải ruộng nào cũng làm được muối sạch, hơn nữa làm muối sạch phải đầu tư vốn và kỹ thuật rất lớn mà đối với đa số hộ dân ở đây đều khó có thể làm được. Bởi thế mà khi tiến hành làm Hợp tác xã muối sạch chỉ có trên 100 hộ tham gia, nhưng sau một thời gian đi vào sản xuất, gặp một số khó khăn, đến nay chỉ còn 61 hộ trên tổng số 728 hộ của xã. Dù cho UBND xã đã có biện pháp trợ giá cho những người làm muối sạch như miễn thuế, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm với giá thành trên 8000đ/yến. Nhưng hình như từng đó chưa đủ để khuyến khích bà con tham gia. Và số hộ làm muối sạch cứ càng ngày càng giảm, không biết con số 61 hộ sẽ duy trì được bao lâu. Khi đề cập đến vấn đề giá muối, một vấn đề bức xúc của người dân làm muối, thì chị cán bộ ủy ban này chỉ nói: "Chúng tôi cũng không biết sự nghiệp của làng muối đi đến đâu. Nhất là vào mùa "ngủ đông" này, bà con bắt đầu kết thúc công việc, chờ mấy tháng nữa mới vực dậy nghề muối. Chắc chắn, trong vài tháng tới là đói dài dài".

Chúng tôi rời làng muối khi trời đã nhá nhem tối, chiếc Dream cà tàng rung lên sòng sọc khi phải vượt qua những con đường đầy ổ gà, ổ voi. Hình ảnh những người dân làng muối lam lũ rút dần từ cánh đồng về trú đông cứ ẩn hiện ám ảnh tôi. Những ngày tới chắc chắn bà con sẽ còn gặp nhiều khó khăn.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.