Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 02/06/2011 21:37 (GMT+7)

Di cư tự do với sự phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên

1. Thực trạng cuộc di cư tự do của đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên

Di dân tự do (tự phát) là hiện tượng di dân do một người, một hộ gia đình, hoặc nhóm hộ tự thực hiện không theo một phương án, chương trình và sự quản lý, điều hành của bất kỳ một cơ quan hoặc tổ chức nào.

Di cư tự do là một hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu được diễn ra dưới nhiều nền kinh tế khác nhau và đặc biệt ngày càng mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, đô thị hoá đất nước.

Ở nước ta số lượng người di cư tự do lớn, kéo dài trong nhiều năm, đến nay chưa chấm dứt. Cuộc di cư tự do của đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên và một số tỉnh khác diễn ra từ lâu, nhưng rộ lên từ những năm 1991-1994 với số lượng lớn. Từ năm 1991-1995, bình quân hằng năm có 16 vạn người. Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 660/TTg, ngày 17-10-1995 “Về giải quyết tình trạng dân di cư tự do đến Tây Nguyên và một số tỉnh khác”.

Tác động của chỉ thị này đã làm cho tình trạng di cư tự do giảm bớt. Từ năm 1996 - 2000, bình quân hằng năm chỉ còn 9 vạn người. Từ năm 2001 - 2002, bình quân hàng năm còn 2 vạn người và năm 2003 chỉ có 4000 người. Theo thống kê đến trước tháng 11-2004; có 45 vạn người di cư tự do, bằng khoảng 9 vạn hộ.

Ngày 12 - 11 - 2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 39/2004/CT-TTg “Về một số chủ trương giải pháp tiếp tục giải quyết tình trạng dân di cư tự do”. Tuy nhiên, sau khi chỉ thị này được ban hành tình hình di cư tự do vẫn tiếp diễn. Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, từ năm 2005 đến 2008, tổng số hộ di cư tự do vào Tây Nguyên là 9.551 hộ với 40.782 nhân khẩu, bình quân một năm là 2.413 hộ với 10.195 nhân khẩu. Di cư tự do vào Tây Nguyên trong năm 2006 giảm mạnh so với năm 2005 nhưng lại tăng trở lại vào các năm 2007, 2008 và cho đến nay vẫn chưa dừng.

Đi sâu nghiên cứu, về thành phần dân tộc, tôn giáo, địa bàn xuất cư của dân di cư tự do ở các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên cho thấy, số người di cư gồm có dân tộc ít người Cao Lan, Dao, H’ Mông, Mường, Nùng, Tày, Thái. Người H’ Mông chiếm đông nhất với tỷ lệ tuyệt đối trong tổng số dân di cư tự do, thậ̣m chí có xã như Phi Liêng thuộc huyện Đam Rông (Lâm Đồng), có 150 hộ dân di cư tự do hoàn toàn là người H’ Mông.

Về thành phần tôn giáo, hầu hết dân di cư tự do của đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên là theo đạo tin lành, còn lại một ít theo đạo công giáo. Chẳng hạn ở Đắk Lắk, đến năm 2006 có 17.232 người H’ Mông là dân di cư tự do, trong đó có 13.957 người, bằng 81% theo đạo Tin lành, thuộc nhiều hệ phái khác nhau (C.M.A): Tin lành liên hữu cơ dốc, Tin lành trưởng lão và 281 người H’ Mông, bằng 1,63% theo đạo Công giáo thuộc huyện Krông Năng.

Về địa bàn xuất cư của dân di cư tự do là từ các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Giang, Lai Châu, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai, Thanh Hoá, Quảng Ninh. Hà Giang là tỉnh có số dân di cư tự do lớn nhất chiếm trên 50% tổng số dân di cư tự do của các tỉnh trên.

Về cách thức tổ chức và hoạt động của dân di cư tự do, mới nghe, tưởng như được tiến hành một cách vô tổ chức, tùy tiện, nhưng trên thực tế cách thức tổ chức cuộc di cư tự do được thực hiện một cách khá chặt chẽ theo một quy trình nhất định với những bước đi cụ thể.

Trước hết về mặt tổng thể, những người di cư tự do căn cứ vào những thông tin từ người khác hoặc từ những sự hiểu biết vốn có của mình về sự phong phú tài nguyên rừng và đất của Tây Nguyên cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là ở vùng đất đỏ Ba Dan thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp, nên đã chọn Tây Nguyên làm địa bàn nhập cư chủ lực. Nhưng thực tế, họ không hiểu rằng sau cuộc di dân xây dựng vùng kinh tế mới từ sau năm 1975 đến năm 1998, tài nguyên đất đã được khai hoang, tài nguyên rừng đã được khai thác, dân số tăng lên nhanh chóng và đông đúc với 4,5 triệu người. Sức chứa của Tây Nguyên đã cạn, khả năng thu nhận người di cư tự do trong hoạt động nông, lâm nghiệp không còn nữa. Đó là một trở ngại lớn cho dân di cư tự do trong việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.

Việc lựa chọn địa bàn nhập cư cụ thể của người dân di cư tự do là theo kinh nghiệm và tập quán tâm lý sản xuất nông, lâm nghiệp truyền thống thường là những địa bàn cư trú giữa rừng già, vùng sâu, xa, với lý do chính là có rừng già để chặt phá lấy gỗ, lấy đất làm nương rẫy với độ phì nhiêu tự nhiên đặc biệt tốt, có nhiều thú để săn bắt và để tránh sự phát hiện, kiểm soát của chính quyền và các cơ quan chức năng. Cũng có trường hợp, những người di cư tự do đã được chính quyền địa phương, hoặc bộ đội biên phòng hỗ trợ ổn định đời sống và phát triển sản xuất tại một địa bàn nhất định theo quy hoạch, thì sau đó họ sẽ tin cho những người khác kéo vào với tư cách đi thăm người nhà và ở lại luôn.

Về các hoạt động kinh tế của người dân di cư tự do tập trung chủ yếu là phá rừng để làm nương rẫy, chặt rừng lấy gỗ để bán, săn bắn thú rừng để lấy thịt. Cả ba hoạt động này đều vi phạm luật bảo vệ rừng, luật bảo về môi trường, luật bảo vệ động vật hoang dã, nhưng lại diễn ra hằng ngày và càng tăng, khó kiểm soát, khi tinh vi, khi táo bạo.

Dân di cư tự do tổ chức việc chặt phá rừng ở những nơi xa xôi hẻo lánh bằng phương tiện hiện đại như cưa máy, máy cày chuyên đi rừng khai thác gỗ. Họ biết móc nối với các phần tử xấu trong đó có cán bộ địa phương để bán gỗ lậu, làm nơi tiêu thụ lâu dài và thường tổ chức vận chuyển vào đêm khuya với lực lượng xe máy chuyên nghiệp hoặc chọn dịp lễ, tết để hoạt động nên khó phát hiện. Trong trường hợp vi phạm lâm luật, chặt phá khai thác, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, bị các lực lượng kiểm lâm công an phát hiện họ chống trả rất quyết liệt.

Một hoạt động kinh tế nữa của dân di cư tự do là săn bắn thú rừng. Họ tổ chức những cuộc săn bắn đông người bằng súng tự chế. Khi thấy con mồi thì đồng loạt bắn, con mồi khó thoát chết. Cuộc săn bắn kéo dài nhiều ngày có khi hàng tháng trong rừng. Thịt thú rừng bị bắn được sấy khô để đem về. Đây là những cuộc săn bắn phạm pháp diễn ra nhiều nơi, nhiều lúc, đặc biệt là trong dịp tết Nguyên Đán. Vì vậy, rất nhiều thú rừng thuộc loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng đă bị sát hại. Ngoài những hoạt động kinh tế chủ yếu trên đây, một số dân di cư tự do nghèo còn đi làm thuê để kiếm sống.

Cuộc di cư tự do đã gây ra một số hậu quả tai hại cho việc phát triển kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái, văn hoá trật tự an ninh xã hội cho các tỉnh Tây Nguyên. Cụ thể là:

- Rừng bị tàn phá nghiêm trọng, đó là toàn bộ rừng già, rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng lỏi các vườn quốc gia. Nếu tính bình quân mỗi hộ chặt phá 1,5 ha rừng để làm nương rẫy thì từ năm 1996 đến năm 2004, 9 vạn hộ di cư do chặt phá hết 13,5 vạn ha rừng. Nếu tính từ năm 2004 đến năm 2008 thì 9.644 hộ di cư tự do chặt phá hết 1,4 vạn ha rừng. Tổng cộng cả hai thời kỳ từ 1996 - 2008 số rừng bị chặt phá lên đến gần 15 vạn ha rừng chưa kể diện tích rừng bị khai thác lấy gỗ để bán.

- Đa dạng sinh học thực vật và động vật bị hủy diệt, trong đó có các loại thú quý hiếm bị giết hại.

- Môi trường sinh thái bị giảm sút dữ dội, góp phần gây ra lũ lụt, hạn hán, lũ quét, sạt lở không chỉ cho Tây Nguyên mà còn cho các tỉnh Duyên Hải miền Nam Trung Bộ.

- Về xã hội và văn hoá, tệ nạn xã hội xuất hiện như hút thuốc phiện, cờ bạc, hoạt động tôn giáo trái phép, gây mất trật tự xã hội, gây mâu thuẫn đối với dân tộc ít người bản địa do tranh chấp đất đai, tranh giành lâm phần thu hẹp không gian văn hoá của dân tộc ít người bản địa do nạn phá rừng....

Ngoài ra, dân di cư tự do còn làm tăng tỷ lệ đói nghèo của địa phương bởi vì phần lớn họ là những người đói nghèo, có đời sống khó khăn đi vào Tây Nguyên. Hơn nữa, hiện nay chỉ một số nơi có điều kiện ổn định thuận lợi cho phát triển sản xuất thì đời sống của người di cư tự do khấm khá hơn, còn lại một bộ phận lớn vẫn đang trong tình trạng khó khăn, đói nghèo.

- Về an ninh chính trị, theo báo cáo của các huyện tại các điểm di cư tự do, tình hình an ninh chính trị luôn có những dấu hiệu phức tạp, nhất là số dân nằm ngoài các dự án quy hoạch bố trí sắp xếp số di cư tự do.

- Về quản lý nhà nước, làm đảo lộn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt quy hoạch sử dụng đất đai của địa phương, gây gánh nặng cho địa phương trong việc quản lý, bố trí cán bộ, chi phí ngân sách cho việc bố trí, sắp xếp, ổn định đời sống cho dân di cư tự do và giải quyết các vấn đề nảy sinh.

Đối với bản thân dân di cư tự do, trừ một số người đã được bố trí sắp xếp lại vào các dự án và một bộ phận dân di cư tự do khai thác tàn phá thiên nhiên có đời sống khá hơn nơi xuất cư, nhìn chung đời sống dân di cư tự do ở Tây Nguyên còn gặp rất nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nơi ở mới hết sức yếu kém, thiếu đường, thiếu điện, thiếu trạm y tế, thiếu trường học, thiếu cả nước sạch để uống. Trẻ em không có chỗ học, ốm đau không nơi khám chữa bệnh, mua bán hàng hoá không có chợ, không liên hệ với thế giới bên ngoài. Nghĩa là, phần lớn hiện nay họ đang sống trong nền kinh tế tự nhiên tự túc tự cấp, khép kín và sinh tồn chứ chưa có sự phát triển.

2. Biện pháp giải quyết tình trạng dân di cư tự do thời gian tới

Đứng trước thực trạng dân di cư tự do đã trình bày trên, Chính phủ đã chủ trương phải giải quyết tình trạng dân di cư tự do này. Điều đó thể hiện trong các Chỉ thị số 660/TTg vào ngày 17-10-1995 và Chỉ thị số 39/2004/CT TTg ngày 17 -11 -2004 và Quyết định số 193/2006/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24 - 8 - 2006 về phê duyệt chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015.

Theo tinh thần các chỉ thị và nghị quyết trên, các địa phương Tây Nguyên đã bố trí, sắp xếp lại dân di cư tự do theo các dự án quy hoạch. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay tình trạng dân di cư tự do vẫn tiếp diễn, việc ổn định, bố trí sắp xếp lại dân di cư tự do vào các vùng dự án chưa làm được nhiều. Vì vậy, trong thời gian tới, cần quan tâm áp dụng các biện pháp chủ yếu sau:

Một là, Nhà nước đầu tư, hỗ trợ lớn vào các tỉnh miền núi phía Bắc là địa bàn xuất cư để phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc ít người có điều kiện sản xuất và cải thiện đời sống tại quê nhà. Đây là biện pháp cơ bản nhất xoá bỏ tận gốc di cư tự do.

Hai là,trước mắt, xác định những vùng quá khó khăn, và dân có nguyện vọng di cư thì chủ động bố trí, thực hiện di dân tái định cư theo quyết định193/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Ba là,đối với dân di cư tự do đã vào Tây Nguyên thì các địa phương nhập cư cố gắng hết sức mình tiến hành quy hoạch, xây dựng dự án ổn định, bố trí sắp xếp lại dân di cư tự do vào nơi ở mới theo tinh thần Quyết định 193 nêu trên. Nhà nước tiếp tục đầu tư và hỗ trợ từ ngân sách để thực hiện các dự án này. Đầu tư này rất lớn cần Nhà nước cung cấp đủ và kịp thời, đồng thời lồng ghép với các chương trình 134, 135, 30A.... để hỗ trợ dân di cư tự do.

Bốn là, đối với những nơi không có khả năng thu nạp dân di cư tự do thì kiên quyết đưa họ về quê cũ có sự hỗ trợ nhất định của Nhà nước để họ tái lập nghiệp ở quê nhà.

Năm là, nâng cao trách nhiệm của chính quyền các tỉnh xuất cư trong việc quản lý dân cư không để dân di cư tự do trái phép, đồng thời nâng cao trách nhiệm của chính quyền các tỉnh nhập cư về quản lý lãnh thổ của mình không để người di cư tự do đến mà không hay biết.

Sáu là,chính quyền nơi xuất cư và chính quyền nơi nhập cư phải hợp tác chặt chẽ trong việc giải quyết tình trạng di cư tự do, đặc biệt trong trường hợp đưa người di cư tự do trở về quê cũ.

Bảy là,Nhà nước cần ban hành một quy chế di dân cư tự do hợp hiến và hợp pháp, bao gồm các nguyên tắc, điều kiện trách nhiệm và nghĩa vụ... để các công dân tuân thủ khi tiến hành di cư tự do.

Tám là, tuyên truyền giáo dục cho đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhận thức để tự giác chấm dứt cuộc di cư tự do trái phép, có hại cho đất nước và cho bản thân, chấp hành đúng chính sách của Nhà nước, làm tròn nghĩa vụ người công dân.

Chín là,nghiêm trị những hành vi phạm pháp của người di cư tự do như chặt phá rừng, buôn gỗ lậu, chống đối hành hung cán bộ thi hành công vụ... những phần tử xấu xúi giục di cư tự do trái phép và tiếp tay cho các hoạt động phi pháp của người di cư tự do. /.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.