Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 28/07/2006 00:36 (GMT+7)

Dạy thứ tiếng Việt nào cho người Việt Nam ở nước ngoài?

1.Về ý kiến cho rằng tài liệu dạy tiếng Việt cho cộng đồng người Việt ở Mĩ nên chú ý đến tiếng Anh (hiểu là cấu trúc ngữ pháp) và văn hoá Mĩ. (Và đối với các nước khác cũng theo nguyên tắc: phải tính đến ngôn ngữ và văn hoá nước sở tại).Lí do là thế hệ thứ hai và ba (sau năm 1975) gần như đã đứt khỏi cỗi rễ văn hoá Việt Nam (ví dụ, không biết cây tre là gì). Những chuyên gia đi khảo sát ở Mĩ về kể rằng, có trí thức Việt kiều còn khuyên ta có thể lấy chính sách giáo khoa dạy tiếng Anh ở Mĩ mà “phiên” thành sách học tiếng Việt!

Lời bàn:

Thứ nhất , tiếng nói không đơn thuần là để giao tiếp mà còn là phương tiện chuyển tải, lưu giữ văn hoá. Những người Việt ở Mĩ cũng như ở bất cứ nước nào học tiếng Việt không phải vì mảnh bằng để kiếm việc (nếu có cũng rất ít): mà để giao tiếp trong cộng đồng, và chủ yếu để giữ lấy “tinh thần nòi giống”. Nếu ta dạy theo cách trên thì họ sẽ nhận được một thứ tiếng Việt “bồi”, một thứ văn hoá Việt đã nhuốm màu “Tây”. Và như thế họ còn học tiếng Việt để làm gì?

Thứ hai , nếu tiếng Việt phát triển theo chiều hướng ấy sẽ vỡ thành nhiều mảng. Kiều bào ta ở Mĩ có thể nói tiếng Việt giọng Anh, ở Pháp có thể nói tiếng Việt giọng Pháp…, nhưng vẫn phải là tiếng Việt, chứ không thể là tiếng Việt - Anh, tiếng Việt - Pháp.

Cũng cần nói thêm rằng: các tài liệu dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam của ta hiện nay còn mô phỏng ngữ pháp Ấn – Âu khá nặng. Ví dụ, nhiều tác giả vẫn áp dụng khá triệt để mô hình câu chủ - vị, vẫn chia tiếng Việt thành ba “thì” (tương đương với đã - sẽ - đang). Tuy nhiên, điều đó có thể cũng không có hại bao nhiêu mà chỉ kém hiệu quả thôi, vì người nước ngoài ở Việt Nam học trong sách vở một phần, còn thì học trong thực tế. Vả lại, họ học chỉ để giao tiếp là chính, có một thứ tiếng Việt “bồi” thôi cũng tạm đủ. Còn với người Việt ở nước ngoài, như trên đã nói, học tiếng Việt là để gắn kết cộng đồng Việt ở nơi cư trú, để mãi mãi là một bộ phận của dân tộc Việt Nam, thì phải là một thứ tiếng Việt đích thực, nguyên chất(nói như thế không hề phủ nhận tiếng Việt hiện đại có tiếp thu các yếu tố ngoại lai một cách hợp lý). Có người sẽ bắt bẻ: kỳ vọng ở người Việt ở nước ngoài nói tiếng Việt như người bản ngữ là một ảo tưởng, mà phải chấp nhận thứ tiếng Việt có pha ngôn ngữ, văn hoá nước sở tại. Thì đúng là như thế. Nhưng hai việc này rất khác nhau. Quan điểm của chúng tôi là, chọn cái gốc làm chuẩn (để viết thành sách) và chấp nhận biến thể (trong thực tế sử dụng), chứ không chọn cái biến thể làm chuẩn.

2.Về ý kiến cho rằng tài liệu dạy học phải chú ý đến phương ngữ miềnNam . Lí do là người Việt ở Mĩ chủ yếu là người miền Nam di tản sau ngày 30/4/1975.

Lời bàn:

Thứ nhất , điều này không khoa học. Ở Việt Nam hiện có ba phương ngữ lớn (Trung, Nam, Bắc) nhưng tiếng Việt vẫn là một thể thống nhất vì ba miền có sự giao lưu mật thiết và nhất là, tuy không có văn bản nào quy định nhưng từ lâu (kể cả thời kỳ miền Nam bị tạm chiếm), mọi người Việt vẫn lấy tiếng Bắc làm ngôn ngữ văn hoá như một điều rất tự nhiên (tất nhiên có bổ sung mấy phụ âm r, s, tr). Bởi vì chỉ có tiếng Bắc mới phân biệt các phụ âm cuối n/ng, c/t, các phụ âm đầu v/d, h/q/g,các thanh điệu… Có những từ địa phương Nam Bộ không có trong tiếng Bắc, nên không có chuẩn để đối chiếu thì chính người Nam Bộ cũng không thể biết đâu là dạng chính tả đúng của nó. Ví dụ, vỏ lải(một loại xuồng gắn máy), viết vỏ lải/ giỏ lải/ vỏ lãi/ giỏ lãi, không biết cái nào là đúng, vì người Nam Bộ phát âm cả mấy cách ấy như nhau cả.

Thứ hai , điều này càng dẫn đến nguy cơ tiếng Việt vỡ ra nhiều mảng. Nếu dùng phương ngữ Bắc, tiếng Việt không những chính xác về chính tả mà còn là điều kiện để chúng ta có một tiếng Việt thống nhất. Còn nếu mỗi cộng đồng Việt ở mỗi nước được học một phương ngữ ( Nam , Trung hoặc Bắc, tuỳ theo cộng đồng nào chiếm đa số), trong khi lại không có điều kiện giao lưu và thống nhất như đồng bào trong nước, thì dứt khoát tiếng Việt sẽ vỡ ra nhiều mảng, ngày càng xa nhau.

Hẳn có người vẫn lo ngại, rằng cứ “cứng nhắc” như chúng tôi, cộng đồng người Việt hải ngoại từ chối thì sao? Chúng tôi chia sẻ những lo lắng ấy. Nhưng theo suy đoán của chúng tôi, nếu chúng ta soạn được một giáo trình hay, chính xác thì những người có nhu cầu học đích thực lẽ nào lại từ chối? Hơn nữa, theo kinh nghiệm của chúng tôi, càng những người bị đứt lìa khỏi cội rễ, thì xu hướng tìm về nguồn càng mạnh mẽ. Những thanh thiến niên Việt Nam lớn lên ở nước ngoài có thể lúc này thờ ơ với tiếng Việt, nhưng rồi sự đời dầu dãi, có thể đến một ngày nào đó, họ sẽ thấy cần phải nương tựa vào một cái gì “bất di bất dịch”, cái bất di bất dịch đó chính là “tinh thần nòi giống” (mượn cách nói của Hoài Thanh) có thể tìm thấy trong tiếng nói của cha ông.

Thay lời kết, tôi muốn dẫn ra bốn câu thơ của một nhà thơ Việt Nam ở hải ngoại để thấy kiều bào ta tha thiết với tiếng Việt “thuần Việt” như thế nào:

Mười mấy năm trời xa đất nước

Em còn nhớ tiếng ViệtNamkhông

Lòng có xôn xao nhớ thơ Nguyễn Bính

Chuyện thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 11 (121), 2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.