Đánh một tiếng cồng
Nói đến cồng chiêng, trước hết cũng phải nhìn xa, trông rộng một chút, mới thấy hết giá trị của loại nhạc cụ dân gian đặc sắc này. Ở nước ta, suốt từ Nam chí Bắc, hầu như nơi nào, dân tộc nào cũng có cồng chiêng, nhưng đặc sắc hấp dẫn vẫn là cồng chiêng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Ngày 25 - 11 - 2005, tại Paris , thủ đô nước Pháp, UNESCO đã chính thức trao bằng công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể nhân loại.
Cồng chiêng đã đi từ các buôn làng Tây Nguyên của Việt Nam đến với thế giới. Thật là thú vị khi cồng chiêng tưởng như cũ kỹ, lạc hậu, quê mùa… lại trở nên vang vọng, hoành tráng, thu hút sự quan tâm của thế giới văn minh, hiện đại. Cồng chiêng là một thành tố quan trọng làm nên đời sống tinh thần (và cả vật chất nữa) của người Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số ở khắp mọi miền Tổ quốc.
Cồng chiêng ra đời từ khi nào? Chưa thấy ai nói đích xác, chỉ biết rằng ở nước ta, từ thời Bà Triệu (248 sau CN) đã sử dụng cồng chiêng. Ca dao có câu: “ Muốn coi lên núi mà coi – Coi Bà Triệu Ẩu cưỡi voi, đánh cồng”. Rõ ràng, cồng chiêng đã có một vai trò rất quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam . Coi nhẹ cồng chiêng là coi nhẹ một bản sắc văn hóa thấm đậm tính nhân văn của dân tộc, là coi nhẹ một di sản văn hóa phi vật thể của cả nhân loại.
Huyện miền núi Quỳ Hợp (miền Tây Nghệ An) có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống: Dân tộc Thái, Dân tộc Thổ và dân tộc Việt. Dân tộc nào cũng có cồng chiêng của riêng mình, tuy sử dụng có khác nhau, nhưng luôn được quý trọng. Người Thái và người Thổ có nhiều cồng chiêng nhất, ước tính hiện nay còn đến gần 100 bộ. Người Việt cũng có cồng chiêng, nhưng chủ yếu là sử dụng trong sinh hoạt tâm linh, đám tang là chính, và thường chỉ sử dụng 1 đến 2 quả cồng hoặc chiêng cỡ nhỏ.
Ở huyện Quỳ Hợp, người Thái và người Thổ cùng hiểu một cách thống nhất: có núm gọi là cồng, không có núm gọi là chiêng, tuy nhiên cách sử dụng có nhiều điểm khác nhau do phong tục của từng dân tộc. Nhưng cho dù có khác nhau về cách đánh, thì cồng chiêng vẫn là nét đặc trưng của văn hóa dân tộc, rất khó mà bỏ đi.
Không ai thống kê cho đích xác hiện nay ở huyện miền núi Quỳ Hợp còn bao nhiêu bộ cồng chiêng cổ và mới? Nói cồng chiêng cổ, là nói tới loại cồng chiêng đã có từ lâu đời, do người Thái đổi được của người Việt từ miền xuôi mang lên, hoặc người Lào mang sang. Loại cồng chiêng này được liệt vào quý hiếm, bởi độ bền, có pha một lượng vàng hoặc đồng đen nhất định, được dát trong núm đồng hoặc thành mặt của chiêng để điều chỉnh âm thanh. Khi đánh, âm thanh vang đi rất xa, ấm và tiếng ngân dài hơn.
Trước những năm 1990, khắp các bản làng của người Thái và người Thổ ở Quỳ Hợp, còn khá nhiều những bộ cồng chiêng cổ, có những bộ được đổi từ năm 1907, đến nay tron 100 tuổi, mà núm chiêng vẫn còn sáng bóng như bộ cồng của ông Quán Vi Thị ở Bàn Còn, xã Châu Quang chẳng hạn… đáng tiếc là bộ cồng ấy cũng bị chính cháu trai của ông bán mất trong năm 2002…
![]() |
Điều đáng tiếc, trong thời kỳ cải cách mở cửa, kinh tế thị trường, cùng với nhà sàn, cồng chiêng cũng rời bản ra đi mà “không một lời báo động” Đồng báo bán cồng chiêng ở ngay tại nhà mình, bán cho những người chuyên làm nghề “lái cồng chiêng”. Tháng 12 - 2007, chúng tôi vô tình gặp được một tay “lái cồng chiêng” như vậy trên chuyến xe khách về Vinh. Ông ta tên Hòa, chừng 40 tuổi, cho chúng tôi biết là người Yên Thành, đã mua được 3 bộ cồng ở Châu Quang, Châu Cường và Châu Tiến (đều thuộc Quỳ Hợp, Nghệ An), với giá một bộ (4 chiếc) là 5 triệu.
Đến ngã ba Diễn Châu, ông ta xuống xe và kéo theo 3 bộ cồng xếp trong 2 lớp bì tải rất kín, nói là đem sang Lào để từ đó bán sang Thái Lan, trừ mọi chi phí, một bộ cồng cũng còn được lãi hơn 20 triệu VNĐ.
Nghe vậy, có thể biết ngay đó là những bộ cồng cổ quý hiếm, không hiểu vì lý do gì mà đồng bào bán đi? Tuy nhiên, không thấy cơ quan nào kiểm tra, tìm hiểu để ngăn chặn cái nạn “chảy máu cồng chiêng” này, cả trên dư luận cũng như công luận? Còn nhớ, khi có nạn “chảy máu nhà sàn”, chúng ta đã nói rất nhiều và có ngay biện pháp ngăn chặn, còn cồng chiêng ra đi thì êm ả quá!
Không thể thống kê số lượng những bộ cồng chiêng cổ, quý giá, được đồng bào Thái và Thổ bán đi với nhiều lý do khác nhau. Chỉ biết rất nhiều hộ đã dày công cất giữ cồng chiêng gia đình đến vài ba đời, coi như vật báu thiêng liêng. Sang đời thứ tư thì cháu chắtt lại đem bán tống tháo với giá rẻ mạt mà không hề hay biết, chỉ để có tiền mua radio, catset, đầu đĩa, loa đài….
Thời hiện đại, các làng người Thổ ngày nay thậm chí vắng cả tiếng cồng chiêng. Có nhiều làng không còn giữ nổi một bộ cồng chiêng nào nữa, hoặc nếu có thì cũng là cồng chiêng mới, còn nguyên màu đồng đúc vội của người miền xuôi mang lên bán rao. Các bản người Thái thì còn khả dĩ hơn, nhưng số lượng những bộ cồng chiêng cổ cũng còn lại rất hiếm, nếu không có cách nào bảo tồn, chắc chắn rồi cũng “không cánh mà bay sang Lào, sang Thái”.
Có nhiều xóm bản, khi có việc lớn như đón danh hiệu “làng văn hóa” chẳng hạn, lại phải đi các bản khác để mượn cho được những bộ cồng chiêng cổ về đánh mới thấy phải phép. Hiện tượng loa đài, nhạc trẻ, nhạc mới… đang lấn át cồng chiêng, không chỉ có trong các lễ hội lớn, mà ngay cả trong từng bản làng của người Thái, người Thổ cũng vậy. Điều đó đã và đang làm cho nhận thức của một lớp trẻ mới lớn lên, mới bước đầu thay ông cha làm chủ gia đình, phần nào coi nhẹ những giá trị văn hóa truyền thống của ông cha mình để lại. Họ coi cồng chiêng là thứ cũ kỹ, lạc hậu, quê mùa, là của “rừng rú”… có để lại cũng vô dụng, chật nhà… không biết đó là vật báu thiêng liêng, âm hưởng của tâm hồn Việt, một dân tộc có truyền thống rất lâu đời, đã được thế giới văn minh ngưỡng mộ.









