Coi chừng nhầm lẫn chết người từ cây Thương lục
Trên thực tế, Thương lục không phải là vị thuốc xa lạ gì đối với Đông y. Trong quyển sách thuốc đầu tiên Thần Nông bản thảo kinh xuất hiện cách đây gần 2000 năm đã có ghi chép tỉ mỉ về vị thuốc này nhưng xếp nó vào nhóm “hạ phẩm” vì là thuốc có độc, không được dùng nhiều và lâu dài, nên ít được thầy thuốc sử dụng phổ biến. Xin trích phần giới thiệu về cây Thương lục Phytolacca acinosa Roxb trong Từ điển cây thuốc của Võ Văn Chi:
Mô tả:Cây thảo sống nhiều năm, cao tới 1,5m. Rễ củ mập. Thân hình trụ nhẵn, màu xanh lục, ít phân nhánh. Lá mọc so le, phiến xoan ngược to, dài 12 - 25cm, rộng 5 - 10cm; cuống lá 3cm, đầu nhọn tù, gốc nhọn. Chùm hoa đối diện với lá song không gắn trước lá, cao 15 - 20cm; 5 lá đài trắng, nhị 8, lá noãn 8 - 10. Quả mọng, hình cầu dẹt, có 8 - 10 quả đại với vòi nhuỵ tồn tại, khi chín có màu tía đen, hạt đen, dẹp, hình thận hay tròn. Hoa tháng 5 - 7, quả tháng 8 - 10.
Bộ phận dùng:Rễ củ - Radix Phytolaccae, thường gọi là Thương lục.
Nơi sống và thu hái: Loài cây Ấn Độ được trồng nhiều làm cảnh và làm thuốc. Trồng bằng mầm rễ và bằng hạt. Có thể thu hoạch rễ vào mùa thu hay mùa đông. Đào rễ về, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, thái mỏng và phơi khô. Có khi người ta ngâm vào rượu có pha mật ong rồi mới phơi hay sấy khô.
Thành phần hoá học:Trong củ có một chất độc đắng gọi là phytolaccatoxin, rất nhiều muối kali nitrat, axit oxymyristinic và một chất steroid saponin; có sách nêu có axit esculentic.
Tính vị , tác dụng: Rễ có vị đắng, tính lạnh, có độc. Có tác dụng trục thuỷ tiêu thũng, thông lợi nhị tiện, gii độc tán kết. Ở Ấn Độ cây được xem như có tác dụng gây ngủ. Trong rễ có steroid saponin, chất này có tác dụng diệt tinh trùng.
Công dụng:Thông thường trị:
1- Thuỷ thũng, cổ trướng, nhị tiện không thông.
2- Sướt cổ tử cung, bạch đới nhiều.
3- Đinh nhọt và bệnh mủ da. Hiện nay thường dùng để chữa những trường hợp phù nề, ngực bụng đầy trướng, cổ đau khó thở. Ngày dùng 3 - 10g dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Ở Ấn Độ dầu rễ trị đau khớp.
Đơn thuốc
1- Viêm thận cấp và mạn: Thương lục 10g, Thịt lợn 60g, cho nước vào nấu chín, chia làm 3 lần ăn trong ngày.
2- Chữa chứng đau cổ họng: Dùng rễ Thương lục hơ nóng bọc vải chườm vào cổ.
3- Bệnh mủ da: Thương lục 15g, Bồ công anh 60g, nấu nước rửa.
Chú ý:
1- Không dùng cho phụ nữ có thai và người tỳ vị hư nhược.
2- Một số người nhầm gọi nó là Sâm Cao ly, Nhân sâm, dẫn đến trường hợp ngộ độc, do đó phải cẩn thận
Xin được nói thêm, trong hầu hết các tài liệu dược học của các tác giả như Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi, Lê Trần Đức, Trần Văn Kỳ... mà tôi tham khảo khi viết về cây thuốc Thương lục đều có ghi chú vấn đề nhầm lẫn chết người này. Như trong sách Trồng hái và dùng cây thuốccủa Lê Trần Đức, NXB Nông nghiệp in năm 1984 đã từng lưu ý: “Hiện nay củ Thương lục được bán ở Hà Nội và chở vào miền Nam bán với tên giả mạo Hồng sâm hay Phòng sâm. Củ Thương lục chính là một vị thuốc công hạ mãnh liệt, có thể gây sẩy thai... Dù người khoẻ mạnh mà dùng luôn thì cũng tổn thương gân cốt và hại thận”.
Rõ ràng những cảnh báo như vậy nếu chỉ nằm trong các sách chuyên khoa chuyên môn thì khó có điều kiện tiếp xúc với quảng đại quần chúng. Vì thế, tạp chí Cây thuốc quý với chức năng là diễn đàn dược liệu và sức khoẻ cộng đồng mong được làm cầu nối thông tin chuyển tải những cảnh báo đó đến với mọi nhà. Có điều, để làm tốt nhiệm vụ đó, không chỉ cần đến sự nỗ lực tận tâm của toàn thể Ban biên tập (BBT) và đội ngũ cộng tác viên bổn báo, mà quan trọng hơn là sự hợp tác của đông đảo bạn đọc giàu nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm như bác Phạm Ngọc Tảo là một điển hình. Mạn phép BBT, kết thúc bài viết này, xin cho tôi được trân trọng cám ơn bác Tảo. Kính chúc bác luôn dồi dào sức khoẻ. Mong nhận được nhiều thông tin phản hồi và sự cổ vũ động viên của bác cũng như quý bạn đọc Cây thuốc quý.
Nguồn: Cây thuốc quý, số 21








