Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 13/08/2007 21:45 (GMT+7)

Có nên lấy Đại học Đông Dương (1906) làm mốc cho Đại học Quốc gia Hà Nội không?

Ngày 16 tháng 06 năm 1906 Toàn quyền P. Beau ký Nghị định thành lập trường Đại học đầu tiên ở Việt Nam cũng là của Đông Dương. Điều 1 của Nghị định ghi rõ: Trường ĐHĐD bao gồm một số trường cao đẳng cho sinh viên thuộc địa và các xứ lân cận. Trường sẽ dùng tiếng Pháp để phổ biến những kiến thức khoa học và phương pháp nghiên cứu của người Châu Âu (1).

Như thế toàn quyền P. Beau có tham vọng khá lớn là muốn thành lập ở Việt Nam một trung tâm nghiên cứu khoa học của các nước phương Đông nhất là Nhật Bản.

Trường Đại học Đông Dương gồm 5 trường Cao Đẳng:

  1. Luật và Pháp chính.
  2. Khoa học.
  3. Y khoa (đã có sẵn từ trước).
  4. Xây dựng.
  5. Văn chương,

- Trường Luật và Pháp chínhchia làm 3 ngành:

+ Ngành thứ nhất coi như đã tổ chức xong, đó là trường Hậu bổ Hà Nội để đào tạo quan lại.

+ Ngành thứ hai là đào tạo những viên chức cho cơ quan cai trị của Nhà nước “Bảo hộ”.

+ Ngành thứ ba là có thể dạy một ít chữ Hán nhưng thiên về thương nghiệp để đào tạo những viên chức cho ngành thương nghiệp và thuế quan.

- Trường Cao đẳng khoa họcgồm các ngành toán, vật lý, hoá học và sinh vật có mục đích từ năm thứ hai trở đi đào tạo thành những giáo viên trung học hoặc cao đẳng sư phạm, và những người làm công tác nghiên cứu khoa học.

- Trường cao đẳng Y khoacoi như đã tổ chức xong từ trước (1904) có 2 ngành Y và Dược.

- Trường Cao đẳng Xây dựng sẽ có 3 ngành:

+ Cầu đường, đường sắt, mỏ (đã có trước ở trường Công chính).

+ Điện khí thực hành (bao gồm cả ngành Bưu điện).

+ Nông nghiệp, dâu tằm và thú y.

- Trường Cao đẳng Văn chươngdạy ngôn ngữ và văn học cổ điển phương Đông; lịch sử và địa lý các nước Viễn Đông; lịch sử văn học Pháp và nước ngoài; lịch sử triết học và nghệ thuật.

Ngày 12 - 10 - 1907, nhà cầm quyền cho ban hành những qui chế của trường Đại học bao gồm qui chế tuyển sinh, giảng dạy và học tập. Ngày 10 - 11 - 1907. Đại học Đông Dương khai giảng. Trong tổng số 94 sinh viên chỉ có 39 người là có bằng cấp đúng quy định (đã tốt nghiệp trường trung học Sài Gòn hoặc đi thi Hương và có chứng chỉ tiếng Pháp).

Sau một tháng học thử, 16 người bỏ cuộc, còn lại 68 sinh viên chính thức và 8 dự thính. Đa số những sinh viên này theo học một cách vất vả, nhất là các môn lịch sử triết học và nghệ thuật, lịch sử văn học Pháp… Đến cuối năm học chỉ còn 41 người và họ cũng chỉ là sinh viên năm thứ nhất vì sau đó trường phải đóng cửa bởi không đủ điều kiện để hoạt động.

Tại sao trường Đại học Đông Dương không thể tồn tại lâu dài? Thứ nhất, đây không phải là một cơ quan giáo dục cao đẳng có tổ chức chặt chẽ, từ cơ sở vật chất đến nội dung giảng dạy đều chưa được nghiên cứu phù hợp với thực tế lúc đó. Người ta đã ghép 3 trường có sẵn: Luật và Pháp chính, Y khoa, Cao đẳng Xây dựng với 2 trường mới được tổ chức là Cao đăng khoa học và Cao đẳng Văn chương dưới một cái tên chung là Đại học Đông Dương. Thực ra 3 trường cũ cũng chưa hoàn chỉnh như Cao đẳng Pháp chính nói là 3 ngành nhưng cũng mới chỉ có trường Hậu bổ còn trường đào tạo công chức Hành chính và Thương nghiệp, Thuế quan cũng chưa có. Còn trường Cao đẳng Xây dựng thì cũng chỉ mới có trường Công chính, 2 ngành Điện khí thực hành và Nông nghiệp cũng chỉ mới ở trên giấy. Hai là, giáo viên hầu hết kiêm nhiệm nhiều việc chứ không phải là những giáo sư chuyên giảng dạy mặc dầu họ đều là những người có học vị, bằng cấp cao. Ba là, sinh viên tuyệt đại đa số là công chức ở các cơ quan trung ương của chính quyền thực dân đóng ở Hà Nội lúc đó (2). Do vậy, thời gian học phải bố trí vào buổi tối mỗi ngày, từ 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm, những môn cần làm thí nghiệm phải học vào sáng thứ năm hàng tuần. Trình độ đa số sinh viên quá thấp so với nội dung giảng dạy. Mặc dầu người ta đã chú ý đến vấn đề này bằng cách châm chước bằng cấp và trình độ tiếng Pháp, nhưng sinh viên vẫn không thể tiếp thu nổi nội dung, nhất là đối với các môn khoa học xã hội như triết học, luận lý học, văn học phương Tây… Do đó, sinh viên bị rơi rụng đi một cách nhanh chóng sau mấy tháng đầu rồi nhà trường phải đóng cửa không kèn không trống. Sau vụ này toàn quyền P. Beau bị dư luận công kích kịch liệt. Báo chí của thực dân Anh ở Ấn Độ đã viết: Nhà cầm quyền Đông Dương đã quá vội vã khi cho tổ chức ra trường Đại học Đông Dương, hoặc là người ta đã đặt cái cày trước con trâu… (3).

Giáo sư Đinh Xuân Lâm trong bài viết về trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, khi điểm qua về tiền thân của trường này là Cao đẳng khoa học và Cao đẳng Văn chương cũng đã khẳng định: “Tuy hai trường trên có được nêu tên trong cơ cấu trường Đại học Đông Dương, nhưng sau đó không có dấu hiệu gì cho thấy là có hoạt động, cho đến nay vẫn không tìm thấy chứng cứ và tư liệu lưu trữ khẳng định rằng hai trường trên đã từng và có sinh viên ra trường (4).

Đó chính là tính chất “hữu danh vô thực” của Đại học Đông Dương và do đó không thể cho rằng “Sự thành lập Đại học Đông Dương năm 1906 nên được coi như bước đi đầu tiên của mô hình đại học đó” (tức là mô hình một Université có tính chất phổ cập trên thế giới) (5). Vậy mốc khởi đầu cho Đại học Đông Dương có thể là năm nào?

10 năm sau khi trường Đại học Đông Dương đóng cửa, nhà cầm quyền Pháp chưa nghĩ đến việc tổ chức lại hệ giáo dục cao đẳng bởi vì những học sinh tốt nghiệp trung học sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906) còn quá ít, hơn nữa trình độ tiếng Pháp chưa thể tiếp thu một cách đầy đủ chương trình giảng dạy ở bậc cao đẳng và đại học. Phải đến 1918 tức là sau cải cách giáo dục lần thứ hai (1917), những yêu cầu của một sinh viên trường cao đẳng đã có thể đáp ứng được do học tập có hệ thống các môn văn học, khoa học, đặc biệt là môn tiếng Pháp, nhà cầm quyền Pháp đã có chủ trương mở một số trường cao đẳng theo hệ chính qui. Đó là các trường Cao đẳng Sư phạm (1917), Cao đẳng Công chính (1917), Cao đẳng Luật - Hành chính (1919). Theo Quy chế chung về bậc Cao đẳng Đông Dương thì những trường này do Giám đốc Cao đẳng học vụ chỉ đạo (toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm) chứ không nằm trong một tổ chức chung nào như các trường Đại học Đông Dương năm 1906.

Tuy nhiên trong 10 năm từ 1917 đến 1927 các trường cao đẳng này vẫn phải nhận những học sinh chỉ có bằng cao đẳng tiểu học, hoặc tú tài phần thứ nhất do đó sau khi ra trường sinh viên chỉ có trình độ tương đương trung cấp kỹ thuật (6). Tháng 12 - 1927 toàn quyền Đông Dương ký Nghị định, tăng thêm bậc trunng học một năm nữa là ba năm và học sinh được thi lấy bằng tú tài toàn phần thì những sinh viên các trường Cao đẳng mới đủ tiêu chuẩn như đã công bố trong các qui chế về các trường cao đẳng ban hành năm 1917. Tuy nhiên thời gian này vẫn chưa có trường Đại học mà phải đến năm 1941 nhà cầm quyền Pháp mới có điều kiện tương đối đầy đủ để tổ chức một số trường đại học và cao đẳng theo qui chuẩn của chính quốc.

Tháng 4 - 1941 tái giảng Trường Cao đẳng Thú y và nâng cao quy chế đào tạo, sinh viên trước kia chỉ cần có bằng cao đẳng tiểu học nay phải có bằng tú tài.

Tháng 7 - 1941 thành lập trường Cao đẳng Khoa học đào tạo sinh viên lấy chứng chỉ cử nhân Khoa học như trường Đại học Khoa học ở Pháp.

Tháng 10 - 1941 đổi tên trường Kiêm bị Y Dược Đông Dương thành Đại học Y Dược, sinh viên tốt nghiệp sẽ được cấp bằng bác sĩ Y khoa và Dược sĩ cao cấo Đông Dương. Cũng năm này đổi trường Cao đẳng Luật khoa thành trường Đại học Luật khoa Đông Dương, sinh viên tốt nghiệp sẽ được cấp bằng Tiến sĩ Luật khoa.

Năm 1942 chỉnh đốn trường Cao đẳng Nông Lâm thành trường đào tạo kỹ sư nông nghiệp và lâm nghiệp.

Năm 1944 mở trường Cao đẳng Công chính và đào tạo kỹ sư và phó kỹ sư công chính.

Tất cả các trường cao đẳng và đại học trên đều nằm trong tổ chức chung là Viện Đại học Đông Dương, một cơ quan mới thành lập để chỉ đạo bậc giáo dục cao đẳng và đại học. Những người muốn vào các trường nói trên đều phải có bằng tú tài toàn phần hoặc phần thứ nhất (tuỳ theo trường, nhưng rất ít). Nhờ qui chế chặt chẽ, tuyển chọn cẩn thận, học sinh là những người có kiến thức vững vàng từ trung học lên, lại được đào tạo chu đáo nên năng lực các kỹ sư bác sĩ ra trường không kém những người học tập từ Pháp về.

Với những lý do vừa trình bày trên, ta nên lấy năm 1941 là năm Viện Đại học Đông Dương được thành lập để làm mốc cho Đại học Việt Nam . Viện Đại học Đông Dương đào tạo được nhiều nhà khoa học và trí thức nổi tiếng, nhiều người đi theo cách mạng, đưa hết tài năng trí tuệ của mình ra phục vụ đất nước. Đại học Đông Dương chưa kịp đào tạo thì đã phải đóng cửa, vậy nó không thể có những sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Đông Dương 1906 được.

Không lấy 1906 là năm mở đầu cho Đại học Đông Dương thì không có sự liền mạch 100 năm từ Đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội được vì từ 1906 đến 1941, không có sự liền mạch mà nó bị gián đoạn khá dài, đến 35 năm.

Một điểm nữa cũng xin nói thêm là trong thế chiến 2 (1939 - 1945) các trường Cao đẳng và Đại học ở Việt Nam vẫn hoạt động, chứng cứ là năm 1941 Viện Đại học Đông Dương đã được thành lập với 5 trường cao đẳng và 2 trường đại học như đã trình bày, chứ không phải “các trường Đại học và Cao đẳng ở Hà Nội do thời gian chiến tranh thế giới thứ hai phải đóng cửa” (7). Chỉ có sau khi Nhật đảo chính Pháp (9 - 3 - 1945) các trường Đại học và Cao đẳng mới ngừng hoạt động và chỉ một thời gian ngắn khi chính quyền về tay ta. Sau cách mạng tháng Tám thì chính phủ đã có kế hoạch để sớm tái giảng những trường Cao đẳng và Đại học như Công báo của nhà nước VNDCCH đã công bố vào tháng 10 - 1945.

Trên đây chúng tôi chỉ chủ yếu nói về mốc thời gian của Đại học Đông Dương còn một số ý kiến sau chỉ nhằm minh hoạ cho vấn đề chính đã nêu mà thôi. Rất mong được trao đổi thêm.

(1)   Phan Trọng Báu,Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2006, tr. 142.

(2)   41 sinh viên còn lại thuộc các cơ quan

a)      Nha học chính 19 người.

b)      Viên chức hoặc thông ngôn các cơ quan:

-         Phủ Toàn quyền 1 người.

-         Phủ Thống sứ Bắc kỳ 5 người.

-         Đốc lý Hà Nội 2 người,

-         Sở Giáo dục Hà Nội 2 người .

-         Viễn Đông Bác cổ 1 người.

-         Sở Công chính 3 người.

-         Sở Nông chính 1 người.

-         Tòa án Hà Nội 2 người.

c)      Viên chức khác 3 người.

d)      Sinh viên tự do 2 người.

(theo C. Mus, La première Université Indochinoise, Hà Nội, 1910, tr. 5).

(3)   C. Mus, sđd, tr. 10

(4)   Đinh Xuân Lâm - Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương , Xưa & Nay số 250 (tháng 5 - 2006). Tr. 25

(5)   Vũ Dương Ninh - Về tính kế thừa của Đại học Quốc gia Hà Nội, Xưa & Nay, số 269 (tháng 10 - 2006), tr12.

(6)   Phan Trọng Báu, sđd, tr. 186

(7)   Xưa & Nay, bài đã dẫn, tr. 12

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Tạp chí Việt Nam Hội nhập nâng cao chất lượng các ấn bản tiếng Anh
Việc nâng cấp toàn diện Tạp chí Việt Nam Hội nhập phiên bản tiếng Anh bao gồm cả ấn phẩm tạp chí in và tạp chí điện tử đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chiến lược thông tin đối ngoại; góp phần quảng bá hình ảnh, chính sách và pháp luật Việt Nam, đồng thời tạo dựng cầu nối tri thức học thuật bền vững với cộng đồng quốc tế.
Vĩnh Long: Đổi mới công tác phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ
Ngày 17/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức hội thảo khoa học "Giải pháp phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ hiệu quả"; ông Hồ Trọng Tâm, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy; Thầy thuốc Nhân dân, TS.BS. Ngô Văn Tán, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh; ThS. Trần Văn Út Tám, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh đồng chủ trì hội thảo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông
Trải qua 25 năm xây dựng và phát triển, Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông đã từng bước khẳng định vị thế là một trong những tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động hiệu quả trong hệ thống Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; có nhiều đóng góp trong nghiên cứu khoa học, tư vấn chính sách, tập hợp trí thức, phổ biến kiến thức và hợp tác quốc tế.
Đồng chí Hồ Đình Lưỡng được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Phú Thọ
Ngày 17/7/2026, tại Trường Đại học Hùng Vương, Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ khóa I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã được tổ chức với chủ đề “Đoàn kết - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khóa mới; đồng chí Hồ Đình Lưỡng được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ.
Đoàn Thanh niên Liên hiệp Hội Việt Nam chung tay xây dựng tương lai vùng biên tại xã Mẫu Sơn
Trong hai ngày 17 - 18/7, tại xã Mẫu Sơn (tỉnh Lạng Sơn), Đoàn Thanh niên Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương phối hợp với nhiều cơ quan, đơn vị tổ chức Chiến dịch "Kỳ nghỉ hồng" năm 2026 với chủ đề "Chung tay dựng tương lai vùng biên, vững tay giữ biển trời quê hương". Hoạt động nhằm hưởng ứng Chiến dịch Thanh niên tình nguyện Hè năm 2026.
GS.VS. Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Đại hội Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam lần thứ V
Sáng 18/7, tại Hà Nội, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam đã long trọng tổ chức Đại hội lần thứ V, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là sự kiện chính trị quan trọng nhằm đánh giá kết quả hoạt động nhiệm kỳ 2020-2026, xác định phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ mới và kiện toàn tổ chức lãnh đạo của Hội.
Chuẩn hóa nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc vì sự phát triển bền vững của y học tái tạo
Sáng 18/7, tại Khách sạn Melia Hà Nội, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Tế bào (tổ chức KH&CN trực thuộc VUSTA) phối hợp cùng Longevity Medical System (LMS) và Báo Sức khỏe và Đời sống tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Tế bào gốc: Từ nghiên cứu lâm sàng đến ứng dụng thực tiễn”.
Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.