Có hay không câu chuyện “Lá cờ khăn gói”?
Trong cuốn Chuyện cũ cố đôdo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân biên soạn, được Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên xuất bản vào năm 1987, (sau đó đã được tái bản nhiều lần) đã ghi lại sự kiện đó khá chi tiết. Đây không phải là cuốn tiểu thuyết lịch sử mà là những câu chuyện được dẫn từ lịch sử, vì thế để rộng đường tham khảo của bạn đọc, chúng tôi xin được mạn phép trích lại sau đây một phần câu chuyện đã được công bố trong cuốn sách trên ở trang 54:
“… Phái đàon rời Huế bằng tàu Escho, vào Sài Gòn chuyển sang tàu Europeen để sang Pháp. Bọn Pháp ở Sài Gòn cử một sĩ quan người Pháp đi theo dẫn đường.
Khi tàu sắp vào kê Xu - ê (Suez) viên quan Pháp cho sứ đoàn biết: Theo thủ tục quốc tế, khi tàu của một vị sứ thần ngoại quốc đến một hải cảng nào đó, thì hải cảng ấy phải bắn 19 phút súng lệnh để chào mừng, và tàu phải thượng quốc kỳ của mình lên để đáp lễ. Vậy xin Đại sứ thượng quốc kỳ của nước Đại Nam lên cột tàu để đáp lễ cùng Chính phủ Ai Cập khi họ bắn súng chào.
Nước ta lúc ấy chưa có quốc kỳ. Lá cờ đuôi nheo thêu rồng là kỳ hiệu của nhà vua, phái đoàn không được phép dùng. Cụ Phan Thanh Giản bèn họp phái đoàn thảo luận. Phái đoàn hết sức bối rối, có ai ngờ trong việc ngoại giao lại có cái lệ chào cờ dị dạng như thế! Cờ đâu mà treo bây giờ! Ai nấy đều lấy làm nan giải. Trong khi các cụ lớn tuổi mưu lược của triều đình Tự Đức đang bứt tóc bứt tai thì may có anh Đội trưởng Lương Doãn lên tiếng:
- Bẩm ba cụ lớn, nước ta không có quốc kỳ, mà việc này thì cấp bách, không thể không giải quyết ngay được. Con thấy chiếc khăn gói của cụ Chánh bằng lụa kiều cầu còn mới tinh, màu đỏ tươi đẹp quá. Con xin đề nghị ba cụ tạm dùng cái khăn gói làm cờ treo đã. Sau về nước sẽ tâu lên Hoàng đế ngự tường.
Vì không còn cách nào khác, ba vị sứ thần thuận lời đề nghị. Nhưng khi đưa lá cờ cho viên quan Pháp treo thì y bảo:
- Lá cờ này không thể dùng được, bởi lẽ nó giống lá quốc kỳ của Ai Cập, sợ Chính phủ Ai Cập hiểu lầm.
Vì thế phái đoàn lại phải thảo luận nữa, cụ Phan Phú Thứ nói:
- Thì ta thêu quách bốn chữ vàng “Đại Nam Khâm sứ” ở giữa cái khăn thì hết lầm lẫn với lá quốc kỳ Ai Cập chớ có khó khăn gì?
Ai nấy đều khen là thần diệu. Thế là khởi công ngay…”
(Theo Việt Nam sử lược)
“Sự cố” đầu tiên mà ai cũng thấy là soạn giả chỉ ghi là trích dẫn Việt Nam sử lược. Không ghi tên tác giả, năm xuất bản, trích ở trang nào… Cứ cho là soạn giả trích từ Việt Nam sử lượccủa Trần Trọng Kim nhưng nếu đọc kỹ trong cả hai tập Việt Nam sử lượcthì không có một dòng nào đề cập đến sự kiện đó trong năm 1863.
Người “chứng” trong nội dung câu chuyện mà Nguyễn Đắc Xuân đã kể là anh đội trưởng Lương Doãn (?), Lương Doãn đi theo đoàn là ai? Khi về nước Lương Doãn thuật lại chuyện đó cho ai nghe? Cho đến hôm nay cũng chẳng ai biết.
Để kiểm mức độ chính xác của sự việc trên, ta cần phải xem xét từ các nguồn tư liệu khác nhau, như của triều đình nhà Nguyễn, các tài liệu lịch sử của người Pháp đã viết về chuyến đi đó, và cần thiết nhất là ở cuốn nhật ký của cụ Phạm Phú Thứ (nhân vật đề nghị thêu chữ vào cái khăn) để xem thử có (khả năng) xảy ra câu chuyện trên hay không?
Trong tất cả sách của Quốc Sử Quán nhà Nguyễn như Đại Nam thực lục Sử quốc triều chính biên toát yếu…cũng như trong cuốn Tây Hành nhật ký(nhật ký ghi chép về chuyến đi Tây) của cụ Phạm Phú Thứ vừa mới được xuất bản gần đây, không hề thấy ghi chép gì về chuyện “lá cờ khăn gói” cả. Sử nhà Nguyễn chỉ ghi chép là triều đình coi đây là một cuộc đi sứ có nhiệm vụ rất quan trọng và khó khăn; vì thế đã chọn người có nhiều khả năng như Hiệp tá Đại học sĩ Phan Thanh Giản, Tả Thanh tri Bộ Lại Phạm Phú Thứ. Trường hợp Án sát Quảng Nam Nguỵ Khắc Đản lấy cớ để thoái thác, nhưng không được vua Tự Đức chấp nhận.
Có người cho rằng, sử nhà Nguyễn sẽ không bao giờ công bố điều đó vì sợ “mất thể diện”. Nhưng khi tra tìm trong các tài liệu người Pháp đã viết và công bố về chuyến đi này, cũng chẳng có một dòng nào đề cập đến điều đó. Nếu điều này có thật, thì đây là một cơ hội để người Pháp tỏ thái độ “kẻ cả” đối với triều đình nhà Nguyễn chứ sao họ lại không công bố ra?
+ Đề cập đến chuyến đi này, trong tạp chí BAVH (Bulletin Des Amis Du Vieux Hue 1926) và trong cuốn Abrege de l’histore d’Annamcủa Alfred Schreiner, xuất bản năm 1905 đã tường thuật khá chi tiết, xin được lược thuật như sau:
“… Theo sự tuyên bố của chính quyền An Nam thì mục đích chuyến công du của đoàn sứ thần Phan Thanh Giản là để chúc mừng và cống hiến các phẩm vật đến Hoàng đế Napoleon III, đáp lễ những phẩm vật mà hoàng đế đã cống hiến Hoàng đế Tự Đức trong việc chuẩn nhận Hoà ước Nhâm Tuất. Tuy nhiên phía sau mục đích này lại là ý đồ của triều đình Huế muốn chuộc lại 3 tỉnh bị mất và nếu không thành công thì ít ra cũng làm đình trệ việc chấp hành Hoà ước do Bonard xướng xuất… Thay vì chống đối, Đề đốc La Grandiere lại cung cấp một tàu chiến Europeen để chở phái đoàn Đại Nam sang Pháp. Phó hạm trưởng Rieunier; nguyên chỉ huy hậu trại của Bonard được chỉ định theo đoàn sứ đến Paris . Đoàn sứ Đại Nam gồm khoảng 60 người, trong đó có 10 người Sài Gòn, hầu hết là theo đạo Gia tô. Linh mục Hoàng (hay Hoằng) là thông ngôn chính thức của sứ đoàn Phan Thanh Giản. LM Hoàng đã mô tả cảnh sinh hoạt của đoàn sứ Đại Nam như sau: Mỗi ngày chúng tôi nguyện kinh chung với nhau, sau buổi nguyện kinh của các thuỷ thủ với linh mục tuyên uý của họ. Phải mất khá nhiều thời giờ để những người trong đoàn sứ Đại Nam có thể sống theo nếp sinh hoạt trên tàu, nhưng rồi thì cũng lướt qua (…). Họ mang theo nhiều nước mắm, ớt, nhiều loại gia vị, thứ gì cũng có… Trước khi tàu ghé bến Anden, rất ít người trong đoàn sứ tránh khỏi tình trạng say sóng khổ sở (…).
Tàu Europpeen rời bến Sài Gòn ngày 17 - 7 năm 1863, cập bến kênh Suez ngày 17 - 8. Từ cảng Alexandrie (Ai Cập), đoàn sứ đổi sang tàu Labrador để tiếp tục lộ trình và tới bến tàu Toulon (Pháp) vào ngày 10 – 9 – 1863; tại đây, đoàn được đón tiếp bằng 17 phát súng đại bác. Tất cả tàu Hải quân của Pháp đang đậu tại bến này đều được lệnh kéo cờ màu vàng vì màu vàng biểu hiện hoàng tộc nước Đại Nam (…) tại đây, tàu Ville de Paris của Hải quân Pháp đã chào mừng đoàn sứ bằng một màn thao diễn quân sự, súng nổ vang rền…” (Theo BAVH, 1 - 3/1926, tr 73 - 74 và Abrege, Sđd, tr 262).
Qua những đoạn trích dẫn đó, ta thấy tàu chở đoàn sứ của Phan Thanh Giản đã cập bến kênh Suez vào ngày 17 – 8 – 1863, và từ cảng Alexandrie (Ai Cập) đoàn chỉ đổi sang tàu Labrodor để tiếp tục lộ trình, và khi tới cảng Toulon của Pháp, đoàn mới được đón tiếp bằng 17 phát súng đại bác, chứ ở kênh Suez không có một nghi lễ nào đón tiếp phái đoàn cả (lý do gì mà họ phải đón tiếp?!). Sau đó, trong các cuộc đón tiếp chính thức của đại diện Chính phủ Pháp (khi Hoàng đế vắng mặt) và ngay cả khi Hoàng đế Napoleon III tiếp đoàn vào ngày 7 - 11 - 1863, tại Điện Tuileries thì nghi thức ngoại giao về quốc kỳ cũng không thấy đề cập đến. Hơn nữa, việc nước ta không có quốc kỳ chính thức, mà chỉ có cờ tượng trưng của triều đình Huế, chẳng lẽ Chính phủ Pháp và các sĩ quan Pháp được cử sang Việt nam lại không biết điều đó?
(Gần đây, theo một vài thông tin trên mạng Internet nói về lịch sử lá quốc kỳ, có nguồn tin cho rằng, trước khi cử đoàn sứ sang Pháp, vua Tự Đức đã chuẩn y và cho đoàn một lá cờ chính thức để mang theo. Cờ có cờ vàng, ở giữa có một khoảng màu đỏ. Màu vàng được giải thích là màu của đất đai và cũng là màu tượng trưng cho vương triều Nguyễn; còn khoảng ngang màu đỏ ở giữa tượng trưng cho con Rồng - thuỷ tổ của dân tộc Việt Nam . Thông tin này cũng cung cấp thêm là Hoàng đế Napoleon III đã thừa nhận lá cờ đó và coi như quốc kỳ chính thức của nước Đại Nam .
Dưới chế độ quân chủ phong kiến, ai cũng biết nước ta không có quốc kỳ mà chỉ có cờ vàng tượng trưng của Hoàng gia, điều đó Chính phủ Pháp đương nhiên đã biết trước khi kéo quân sang Việt Nam xâm lược. Phái đoàn đi sứ do Phan Thanh Giản dẫn đầu lúc đó là đại diện chính thức cho triều đình Huế và của nước Đại Nam . Đến Pháp đoàn đã được Hoàng đế Napoleon III đón tiếp theo nghi lễ quốc khách, điều đó chứng tỏ trước khi bị thực dân xâm lược, Đại Nam là một nước độc lập có chủ quyền. Vì thế câu chuyện “lá cờ khăn gói” đề cập ở trên chỉ được coi như một “giai thoại”, chứ không thể nhìn nhận là một “sự kiện” lịch sử đã từng xảy ra.








