Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 22/04/2006 15:44 (GMT+7)

Cấu trúc nghịc nhân quả của các cặp phụ từ hô ứng trong truyện Kiều

1. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng rất nhiều phụ từ: phụ từ đơn, phụ từ đôi, cặp phụ từ… Loại trừ những trường hợp phụ từ thuần nhất mang đặc điểm của nó vốn có là làm thành phần phụ trong cụm từ và loại trừ những phụ từ chỉ có tác dụng nối từ với cụm từ,… chúng ta tìm hiểu những cặp phụ từ không chỉ thể hiện ý nghĩa một chiều với trung tâm mà nó còn hướng ra ngoài để thể hiện mối quan hệ ý nghĩa hai chiều giữa các vế trong câu ghép. Chính nhờ có mối quan hệ hai chiều đó mà khả năng biểu đạt càng cao, giúp ta hiểu nội dung vấn đề được nêu trong câu càng sâu. Đặc biệt là những trường hợp phụ từ sóng đôi có quan hệ nghịch nhân quả.

2. Thống kê toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều, những phụ từ có khả năng xác lập câu ghép xuất hiện: 123 lần. Với một số phụ từ quen thuộc, gần gũi như: đã, chưa, còn, lại, vừa, cũng, cứ, càng…, Nguyễn Du đã tạo ra các cặp phụ từ để xác lập các kiểu câu ghép. Trong đó, trường hợp các cặp phụ từ sóng đôi chỉ quan hệ nghịch nhân quả xuất hiện 65 lần.

2.1. Cấu trúc nghịch nhân quả sớm

Khi hai đối tượng X và Y có các trạng thái xảy ra theo thứ tự thời gian, nghĩa là A xảy ra trước C còn B xảy ra trước D. Nếu X vẫn còn ở trạng thái A mà Y đã chuyển sang trạng thái D thì đây là hiện tượng nghịch nhân quả sớm (theo Nguyễn Đức Dân).

Ví dụ:

Còn chi nữa cánh hoa tàn

Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân

Thống kê các cặp phụ từ sóng đôi có quan hệ nghịch nhân quả sớm xuất trong Truyện Kiềuvới số lần là 31, được phân ra như sau:

- Nhóm “còn… đã (đà)…” : 10 lần, ví dụ:

+ Buông cầm, xốc áo, vội ra

Hương cònthơm nức, người đàvắng tanh (291-292)

- Nhóm “chưa… đã” : 7 lần, như:

+ Vâng lời khuyên giải thấp cao

Chưa xong điều nghĩ, đãdào mạch tương. (237-238)

- Nhóm “mới… đã”: 6 lần: như:

+ Nẻo xa mớitỏ mặt người

Khách đàxuống ngựa tơi nơi tự tình (141-142)

- Nhóm “vừa… đã”: 7 lần, như:

+ Thuyền tình vừaghé tới nơi

Thì đàtrâm gãy bình rơi bao giờ. (69-70)

- Nhóm “chưa… cũng” : 1 lần

+ Chưachăn gối cũngvợ chồng

Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang (2815-2816)

Các cặp phụ từ sóng đôi chủ yếu diễn đạt quan hệ thời - thể giữa các sự việc diễn đạt trong hai vế câu (ý nghĩa của từng cặp là khác nhau). Ý nghĩa của chúng thường tập trung nhấn mạnh ở vế sau. Xét về một trường hợp tiêu biểu:

Thề hoa chưa ráo chén vàng

Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa.

Cặp phụ từ “chưa… đã” tuy không phải là cặp từ nối theo cách gọi truyền thống nhưng nó vẫn được dùng để nối hai vế của câu, tức là xác lập được câu ghép. Ở đây, nó có cấu tạo quan hệ thời gian nghịch đối, biểu thị sự kiện xảy ra nhanh trong thời gian: “còn”: đang tiến hành, vẫn tiếp tục; “đã”: hoàn thành của một hành động so với một hành động khác đang tiến hành chưa xong. (Sự việc ở vế sau xuất hiện sớm hơn sự việc nêu ở vế trước, trái với sự chờ đợi thông thường - một thứ thời gian tâm lí). Vì thế, dù có dùng hay không dùng cặp từ nối “tuy… nhưng…” thì “chưa… đã…” vẫ thể hiện mối quan hệ của hai vế: quan hệ nghịch nhân quả sớm. Nếu không có cặp phụ từ này thì hai trạng thái hành động “ráo chén vàng” và “phụ phàn với hoa” là hai trạng thái hành động có tính tất yếu phù hợp, nhưng khi có cặp phụ từ này thì ý nghĩa nghịch nhân quả thể hiện sâu sắc hơn. ( Chưa C“chưa ráo chén vàng” mà đã D: “đã phụ phàng với hoa”).

Cặp phụ từ “chưa… đã…” tạo nên sự nghịch đối cao giữa hai hành động: thề và phụ thề (chưa hoàn thành và hoàn thành). Lời thế sắt son, chung thuỷ của đôi trai tài - gái sắc: Kim - Kiều:

Đã nguyền hai chữ đồng tâm

Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai

Còn vang vọng bên tai, còn ghi đậm trong tim, như cuộc rượu còn “chưa ráo chén vàng” thế mà giờ đây, Kiều đành phụ phàng với lời thề đó, “cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai”. Đó là điều mà nhân vật trữ tình - Thuý Kiều nào có muốn. Chính vì vậy, lời nói của Thuý Kiều trong hai câu: :Thề hoa chưa ráo chén vàng, lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa” là một lời than thân, tự trách, lời tâm sự não nề, chua xót khi nghĩ về người bạn tình của mình.

2.2. Cấu trúc nghịch nhân quả muộn

Khi hai đối tượng X và Y có các trạng thái xảy ra theo thứ tự thời gian, nghĩa là A xảy ra trước C còn B xảy ra trước D. Nếu X đã chuyển sang trạng thái C mà Y vẫn còn ở trạng thái B thì đây là hiện tượng nghịch nhân quả muộn.

Theo thống kê, các cặp phụ từ sóng đôi có quan hệ nghịch nhân quả muộn xuất hiện trong Truyện Kiềuvới số lần là 34, được phân ra như sau:

- Nhóm “đã… còn…” : 18 lần, như:

+ Ở đây âm khí nặng nề

Bóng chiều đãngả dặm về cònxa (113-114)

- Nhóm “đã… mới…” : 6 lần, kiểu như:

+ Mé ngoài họ Mã vừa sang

Tờ hoa đãkí, cân vàng mớitrao (685-686)

- Nhóm “đã… chưa…” : 2 lần, kiểu như:

+ Đầu xanh đãtội tình gì?

Má hồng đến quả nửa thì chưathôi! (2161-2162)

- Nhóm “đã… lại…” : 6 lần, kiểu như:

+ Đãlòng hiển hiện cho xem

Tạ lòng nàng lạinối thêm vài lời (129-130)

- Nhóm “đã… ắt…” : 2 lần, kiểu như:

+ Mới hay tiền định chẳng lầm

Đãtin điều trước ắtnhằm điều sau (2049-2410)

Ý nghĩa của các cặp phụ từ sóng đôi thể hiện quan hệ nghịch nhân quả muộn trong Truyện Kiềucủa Nguyễn Du tập trung nhấn mạnh ở vế trước. “Đã… còn…” thể hiện quan hệ bổ sung, tăng tiến, biểu thị sắc thái ý nghĩa cho rằng như vậy là nhiều quá, (hoặc thể hiện như là sự thái quá).

Ví dụ:

Bóng tà như giục cơn buồn

Khách đà lên ngựa người còn nghé theo

Nếu chúng ta xem xét những từ “đã”, “còn” là những từ đơn thuần phụ nghĩa cho các từ trung tâm thì chúng ta không thể nào hiểu hết nội dung ý nghĩa giữa các vế trong mối quan hệ nghịch nhân quả muộn, tức là xem xét nó trong sự có mặt của những phụ từ ‘đã… còn…” thì mới hiếu hết cái tâm trạng luyến tiếc, bịn rịn của Thuý Kiều trong lúc ấy như thế nào.

Rõ ràng, hai hành động của hai đối tượng có chiều nghịch nhau. Ở đây, ta còn bắt gặp cặp phụ từ này biểu hiện nghĩa tăng tiến ủa sự tình. Chính cặp từ “đã… còn…” giúp ta hiểu sâu hơn câu thơ này.

Từ việc phân tích đặc điểm logic - ngữ nghĩa và giá trị của việc sử dụng các cặp phụ từ sóng đôi có quan hệ nghịch nhân quả, ta thấy: khi phụ từ có khả năng xác lập câu ghép xuất hiện thì ta xem xét nó như là yếu tố chính trong mối quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu ghép, không nên xem nó là yếu tố phụ trong kết cấu chính phụ và ở đây cũng không cần thiết phải có cặp quan hệ từ xuất hiện.

3. Như vậy, cách dùng cặp phụ từ hô ứng để xác lập câu ghép thể hiện quan hệ nghịch nhân quả đã đem lại những bổ ích cho việc nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều. Để đảm nhận vai trò của quan hệ từ, phụ từ mở rộng thêm chức năng, mang đặc điểm “nước đôi” của hai từ loại đó - xét trên mối quan hệ ngữ nghĩa - logic hình thức. Trên một phương diện nào đó, phụ từ có quan hệ gần gũi với quan hệ từ. Nếu trong câu không xuất hiện cặp quan hệ từ để nối hai vế mà chỉ có cặp phụ từ thì cặp phụ từ này vừa là phụ tố bổ nghĩa vừa đảm nhiệm vai trò nối kết. Ý nghĩa biểu đạt của nó càng sâu sắc hơn. Nó thể hiện được tư tưởng, tình cảm… của con người nhất là trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Chính quan hệ ý nghĩa của từng phụ từ, từng cặp phụ từ tạo nên giá trị và sắc thái tu từ khác nhau.

Và có thể nói một điều thú vị là chúng ta thấy việc sử dụng của Nguyễn Du thật tài tình, khéo léo và linh hoạt trong việc đảo vị trí của các cặp phụ từ chỉ quan hệ nghịch nhân quả. Khi thì: còn… đã; mới… đã,khi thì: đã… còn; đã… chưa; đã… mới;…để tạo ra quan hệ nghịch nhân quả sớm và nghịch nhân quả muộn, thể hiện được những hoàn cảnh, những nội dung khác nhau. Do vậy, có thể nói: đây là một trong những góc nhìn ngôn ngữ học giúp chúng ta hiểu thêm Truyện Kiều.

Tài liệu tham khảo

1. Diệp Quang Ban - Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, Giáo dục, 2001.

2. Lê Cận - Phan Thiều - Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, t. 1, Giáo dục, 1983.

3. Nguyễn Đức Dân - Một số phương thức thể hiện ý chí tuyệt đối, Tạp chí Ngôn ngữ s.3-1985.

4. Nguyễn Đức Dân - Logic và tiếng Việt, Giáo dục, 1998.

5. Nguyễn Văn Khoả - Về cách hiểu từ “đã” trong truyện Kiều, Tạp chí Ngôn ngữ s.3-1972.

6. Lê Đình Kỵ - Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực, KHXH, 1970.

7. Đinh Trọng Lạc - Bùi Minh Toán - Tiếng Việt, t.2, Giáo dục 1995.

8. Đặng Thanh Lê, (trích, giới thiệu và chú thích) - Nguyễn Du - Truyện Kiều, Giáo dục, 1972.

9. Hoàng Phê - Logic - ngôn ngữ học, Đà Nẵng, 2003.

10. Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Tuệ - Tuyển tập ngôn ngữ học, ĐHQG TP. HCM, 2001.

Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 7 (117), 2005, tr 5-7

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.