Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 09/06/2011 21:56 (GMT+7)

Các yếu tố sở hữu công nghiệp tác động đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ

1. Đặt vấn đề

Hiện nay có khá nhiều hợp đồng CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam mang lại hiệu quả kinh tế không cao đối với bên nhận chuyển giao - là các doanh nghiệp Việt Nam, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, nhưng một trong những nguyên nhân đó là các bên tham gia hợp đồng CGCN không tính đến hoặc không thể lường trước được hợp đồng CGCN đã bị các yếu tố của quyền sở hữu công nghệ (SHCN) tác động như thế nào.

Giới hạn của thuật ngữ CGCN trong bài viết này không bao hàm chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ, mà chỉ đề cập đến chuyển giao quyền sử dụng công nghệ. Mặt khác, bài viết này chỉ giới hạn xem xét công nghệ được chuyển giao có gắn với yếu tố SHCN, bao gồm công nghệ được bảo hộ dưới dạng cấp Bằng độc quyền sáng chế và công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh, trong đó chỉ đề cập đến “phần mềm” của công nghệ - phần vô hình mà không đề cập đến “phần cứng” - trang thiết bị đi kèm công nghệ như là phần hữu hình của công nghệ.

Để tiện theo dõi, chúng tôi xin quy ước: bên CGCN là A; bên nhận CGCN từ A là B, B1, B2,… bên nhận CGCN từ B là C, C1, C2,…( trong trường hợp này bên CGCN lại là B). Thuật ngữ “License” dùng để chỉ hợp đồng CGCN.

2. Chủ thể chuyển giao công nghệ

Trong các hợp đồng CGCN được khảo sát, phần lớn đều có lỗi khi không xác định vị trị pháp lý của bên CGCN, điều 15 Luật CGCN quy định về nội dung của hợp đồng CGCN đã không nhắc đến mục này, nhưng cần lưu ý rằng pháp luật về CGCN là một bộ phận không thể tách rời khỏi pháp luật nói chung, trong khi đó Bộ Luật Dân sự lại quy định chi tiết về vấn đề này.

Nếu không xác định vị trí pháp lý của bên CGCN thì rất có thể xảy ra hiện tượng “bán cầu Long Biên”, có nghĩa là bên CGCN không phải là chủ sở hữu công nghệ hoặc bên được quyền CGCN. Bởi vậy, để cho dễ xử lý khi có tranh chấp xảy ra thì trong hợp đồng nên có một điều khoản quy định rõ vị trí pháp lý của bên CGCN, ví dụ: Bên CGCN là chủ sở hữu của sáng chế S theo Bằng độc quyền sáng chế số … do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp ngày… hiện đang còn hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ CHXHCN Việt Nam. Bản photocopy có công chứng Bằng độc quyền sáng chế đã nêu là phần không thể tách rời của Hợp đồng này. Hoặc bên CGCN là bên có quyền sử dụng sáng chế S theo hợp đồng số… được lập ngày… Bản photocopy có công chứng hợp đồng đã nêu là phần không thể tách rời của Hợp đồng này.

Nhân đây cũng bàn thêm về quy định tại điều 8.3 Luật CGCN, trong đó quy định: “Tổ chức, cá nhân có công nghệ là đối tượng SHCN nhưng đã hết thời hạn bảo hộ hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam có quyền chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó”. Công nghệ trong trườn hợp này chỉ có thể là sáng chế (vì công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh không xác định hiệu lực bảo hộ về thời gian và lãnh thổ). Sở dĩ phải bàn lại quy định này, bởi lẽ:

- Một sáng chế đã hết thời hạn bảo hộ thì quyền sử dụng sáng chế đó thuộc về tất cả mọi người;

- Một sáng chế không được bảo hộ tại Việt Namthì có nghĩa là pháp luật Việt Nam đã không công nhận tư cách pháp lý của chủ sở hữu sáng chế đó;

- Điều 102.2.a. Luật Sở hữu trí tuệ quy định khi một chủ thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế thì kèm theo đơn phải có bản mô tả sáng chế đáp ứng điều kiện: “Bộc lộ đầy đủ và ràng bản chất của sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó”. Những thông tin này được lưu giữ tại sổ đăng ký quốc gia. Tại Việt Nam , theo quy định tại điều 19.1.e. Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN: “Các số đăng ký quốc gia do Cục Sở hữu trí tuệ lập và lưu giữ dưới dạng giấy, điện tử hoặc các phương tiện khác. Bất kỳ người nào cũng có thể tra cứu sổ đăng ký điện tử hoặc yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ cấp bản sao hoặc bản trích lục nộp phí cấp bản sao”. Đối với các sáng chế không được bảo hộ tại Việt Nam, người ta có thể tra cứu các thông tin về chúng trên các website của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) hoặc của chính cơ quan sáng chế quốc gia - nơi bảo hộ sáng chế đó.

Như vậy, việc phải bỏ tiền để mua quyền sử dụng một sáng chế đã hết thời hạn bảo hộ hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam là điều cần phải bàn lại. Về vấn đề này, TS Phạm Phi Anh, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ đã đề cập khi phát biểu: “… Tại sao chúng ta không biết rằng, một sáng chế đăng ký ở nước nào thì chỉ có hiệu lực ở nước đó mà thôi. Nếu các sáng chế về thuốc không đăng ký tại Việt Nam, mình có thể khai thác, bắt chước công thức ấy rồi sản xuất bằng dược liệu của Việt Nam . Từ đó, hạ giá thành của chính thuốc đó tại Việt Nam , đem lại lợi ích cho toàn xã hội…”.

3. Sự tác động của yếu tố độc quyền trong hợp đồng chuyển giao công nghệ

Điều 17.2 Luật CGCN quy định “phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm: a) Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ”. Nhưng Luật CGCN lại không quy định rõ thế nào là độc quyền. Thực tế cho thấy, thuật ngữ “độc quyền” trong CGCN không hề đơn giản, cùng một công nghệ được chuyển giao, nhưng phạm vi độc quyền khác nhau thì giá chuyển giao cũng khác nhau. Sau đây chúng tôi xin trình bày một số dạng độc quyền.

3.1. Độc quyền tuyệt đối

Thuật ngữ “độc quyền tuyệt đối” và “độc quyền tương đối” trong bài viết này do tác giả tự đặt. License độc quyền tuyệt đối chỉ diễn ra khi bên A phải là chủ sở hữu của công nghệ được chuyển giao, trong đó quy định rõ trong suốt thời gian mà License có hiệu lực về mặt thời gian bên A không được quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao trên tất cả mọi lãnh thổ quốc gia bảo hộ công nghệ đó. Hệ quả pháp lý là:

- B có thể tiếp tục chuyển giao công nghệ cho C, C1, C2… trên tất cả mọi lãnh thổ quốc gia bảo hộ công nghệ đó;

- B có thể sử dụng công nghệ được chuyển giao, bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao… trên tất cả mọi lãnh thổ quốc gia bảo hộ công nghệ đó.

Trong một hợp đồng CGCN, tại phần định nghĩa các thuật ngữ cần phải phân biệt sử dụng công nghệ được chuyển giao với việc bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao, nếu không thì rất khó phân định khi xảy ra tranh chấp hợp đồng mà phần thua thiệt luôn thuộc về B, bởi lẽ:

- Khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực về thời gian thì đương nhiên B hết quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao, nhưng trong kho của B vẫn có thể còn sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao. Trong thực tế đã xảy ra tranh chấp dạng này giữa Công ty Tân Trường Sơn và Công ty Hưng Phát vào tháng 11.2008.[2]

- Đối thủ cạnh tranh với B có thể không có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao trên lãnh thổ độc quyền của B, nhưng rất có thể lại có quyền bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao trên lãnh thổ độc quyền của B nếu hợp đồng CGCN giữa A và B không định nghĩa rõ về phạm vi độc quyền. Tranh chấp dạng này thường xảy ra đối với trường hợp độc quyền tương đối mà chúng tôi sẽ trình bày ngay dưới đây.

Như vậy, hiệu quả kinh tế của hợp đồng CGCN đối với B trong trương hợp này là cao với các điều kiện:

- Không xuất hiện chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế;

- Không xuất hiện công nghệ cạnh tranh.

Chúng tôi sẽ đề cập rõ hơn tại mục 5.

3.2. Độc quyền tương đối

License độc quyền tương đối có thể diễn ra khi bên A là chủ sở hữu của công nghệ được chuyển giao hoặc là bên có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao. Nếu A là bên có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao thì hợp đồng CGCN giữa A và B được gọi là hợp đồng thứ cấp (Sublicense). Phạm vi chuyển giao của Sublicense không được phép vượt quá phạm vi chuyển giao do License tương ứng quy định. Hợp đồng giữa A và B quy định rõ trong suốt thời gian mà License có hiệu lực về mặt thời gian bên A vẫn được quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao, bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao ngoài lãnh thổ độc quyền của B. Lãnh thổ độc quyền của B có thể là một quốc gia, một nhóm quốc gia hoặc có thể chỉ là một địa phương trong phạm vi một quốc gia. Hệ quả pháp lý là:

- A vẫn có thể tiếp tục CGCN cho B1, B2,… trên lãnh thổ khác với lãnh thổ độc quyền của B. Trong một số trường hợp nhất định B1, B2… có thể là đối thủ cạnh tranh của B ngay cả trên lãnh thổ độc quyền của B (chúng tôi sẽ trình bày trong mục nhập khẩu song song).

- B không thể sử dụng công nghệ được chuyển giao, bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao trên lãnh thổ độc quyền của A, B1, B2…

- B có thể tiếp tục chuyển giao công nghệ cho C, C1, C2… trên lãnh thổ độc quyền của B, hợp đồng CGCN giữa B và C, C1, C2… gọi là hợp đồng thứ cấp (Sublicense).

Hiệu quả kinh tế của License đối với B trong trường hợp này là cao với điều kiện không xuất hiện công nghệ cạnh tranh và nhập khẩu song song.

4. Nhập khẩu song song

Yếu tố độc quyền trong CGCN đã mang lại hiệu quả kinh tế cho B như vừa phân tích, nhưng xét trên khía cạnh tổng thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì đôi lúc phải xem lại. Ví dụ trong thực tế, Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam đã liên kết với nhau để nâng giá bán ôtô trên lãnh thổ Việt Nam, làm cho giá bán ôtô trên thị trường Việt Nam cao hơn giá bán ôtô tương ứng trên thị trường các quốc gia khác.

Để chống lại hiện tượng độc quyền trên, Nhà nước có thể áp dụng biện pháp nhập khẩu song song. Nhập khẩu song song (Parallel Importation) là một thuật ngữ dùng để chỉ “… việc nhập khẩu sản phẩm chứa đựng đối tượng SHCN được bảo hộ, được tiến hành bởi một nhà kinh doanh không hề có mối quan hệ nào với chủ sở hữu đối tượng SHCN”.

Điểm đáng lưu ý là việc nhập khẩu song song không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các bên tham gia hợp đồng CGCN mà lại phụ thuộc vào sự cho phép của Nhà nước. Ví dụ giả định rằng Honda Nhật Bản là A, Honda Việt Nam là B, Honda Thái Lan là B1, hợp đồng giữa A và B có điều khoản cấm A bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao vào Việt Nam, hợp đồng giữa A và B1 có điều khoản cấm B1 bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao vào Việt Nam. Tuy nhiên Nhà nước Việt Nam có thể cho phép một chủ thể khác mua Honda từ Nhật Bản hoặc từ Thái Lan để bán trên lãnh thổ Việt Nam nhằm chống lại sự độc quyền của B. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin phép không đề cập đến việc đánh thuế cao đối với sản phẩm nhập khẩu để bảo hộ hàng hóa được sản xuất trong nước.

Như vậy, việc nhập khẩu song song đã tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế đối với B khi mà sự độc quyền đã vượt quá giới hạn thông thường - ngưỡng mà thị trường có thể chấp nhận.

5. Công nghệ cạnh tranh

Trong quá trình thẩm định giá công nghệ được chuyển giao, người ta phải tính đến yếu tố các công nghệ cạnh tranh với công nghệ được chuyển giao. Một sáng chế còn thời hạn bảo hộ dài và không có hoặc ít có công nghệ cạnh tranh thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bên nhận CGCN. Người ta chỉ tính được số lượng công nghệ cạnh tranh nếu các sáng chế đã xuất hiện trên thị trường, còn các giải pháp kỹ thuật đang trong thời kỳ nghiên cứu và sẽ xuất hiện trên thị trường thì không thể tính được số lượng.

Trong cuốn Valuation and Princing of Technology - Based Intellectual Property, Richard Razgaitis đã đưa ra công thức tính hệ số khi có sáng chế cạnh tranh, trong đó nêu rõ nếu có 2 sáng chế cạnh tranh thì hệ số bằng 1,3 đến 1,4. Hệ số này giảm dần và nếu có đến 15 sáng chế cạnh tranh thì hệ số chỉ còn bằng 0,6 đến 0,7. Nhưng tác giả đã bỏ qua khi không tính đến yếu tố quyền sử dụng trước đối với sáng chế. Qua nghiên cứu nhiều hợp đồng CGCN, chúng tôi cho rằng không những Richard Razgaitis mà một số tổ chức thẩm định giá công nghệ được chuyển giao cũng đã bỏ qua yếu tố quyền sử dụng trước đối với sáng chế (chúng tôi chỉ khẳng định điểm này khi nghiên cứu các hợp đồng CGCN mà chúng tôi hiện có trong tay, còn đối với các trường hợp khác thì xin phép không bàn đến).

Điều 134.1. Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định trường hợp trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu có) của đơn đăng ký sáng chế mà có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế đồng nhất với sáng chế trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị để sử dụng. Việc thực hiện quyền của người sử dụng trước đối với sáng chế không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế.

Mỗi chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế đều là một đối thủ cạnh tranh với B (kể cả trong trường hợp License độc quyền tuyệt đối). Vì mục tiêu lợi nhuận mà trong quá trình đàm phán hợp đồng CGCN, bên A chắc chắn phải biết số lượng này). Cần nhấn mạnh rằng quyền sử dụng trước đối với sáng chế là quyền sử dụng chính sáng chế được chuyển giao, chứ không phải đối với sáng chế cạnh tranh.

Như vậy, số lượng sáng chế cạnh tranh là có thể biết được, còn số lượng chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế là không thể biết được (nếu bên A cố tình không công khai), giá của công nghệ được chuyển giao sẽ càng giảm nếu số lượng chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế càng tăng. Qua đây chúng ta mới thấy khiếm khuyết sẽ là rất lớn nếu bên B không thể kiểm soát được quyền sử dụng trước đối với sáng chế.

Bởi vậy, trong hợp đồng CGCN cần có một điều khoản buộc bên chuyển giao phải cam đoan công khai số lượng chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế. Mặt khác, bên nhận CGCN hoặc các tổ chức thẩm định giá của công nghệ được chuyển giao nên tra cứu thông tin để biết số lượng các sáng chế cạnh tranh với công nghệ được chuyển giao.

6. Kết luận

Qua phân tích một số yếu tố của quyền SHCN cho thấy chúng có thể tác động đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng CGCN. Giải pháp cho vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã trình bày lồng ghép khi phân tích ở trên.

Bài viết này muốn lưu ý các bên trong quá trình đàm phán hợp đồng CGCN để sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Mặt khác, cũng muốn cung cấp thông tin để các tổ chức thẩm định giá công nghệ được chuyển giao đưa ra giá cả sát với thực tế nhằm tư vấn cho các bên tham gia hợp đồng CGCN đạt được thỏa thuận về giá cho công nghệ được chuyển giao khi quyết định ký kết hợp đồng CGCN.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.