Biện pháp phòng trừ một số bệnh hại lúa mùa
Bệnh khô vằn
Triệu chứng:Bệnh gây hại ở một số bộ phận của cây lúa như bẹ lá và cổ bông. Các bẹ lá sát mặt nước hoặc lá già dưới gốc thường là nơi phát sinh bệnh đầu tiên. Vết bệnh lúc đầu là vết đốm hình bầu dục màu lục tối hoặc xám nhạt, sau lan rộng ra thành vết vằn da hổ hoặc dạng đám mây. Khi bệnh nặng cả bẹ và phần lá phía trên bị chết lụi. Vết bệnh ở cổ bông kéo dài xung quanh, phần giữa vết bệnh màu lục sẫm co tóp lại.
Nguyên nhân gây bệnh: Bệnh do nấm Khizoctonia Solani Palo gây ra, có khả năng ký sinh trên 180 loại cây trồng khác nhau như lúa, đậu tương, ngô, mía, đậu đỗ. Nấm tồn tại ở dạng hạch, có khả năng tồn tại 2-3 năm.
Đặc điểm:Bệnh thường gây hại lúa từ giai đoạn mạ đến khi lúa chín, nhất là giai đoạn lúa đứng cái trở đi.
- Nấm sinh trưởng ở nhiệt độ từ 28 đến 32 độ C, ẩm độ trên 90%.
- Bệnh phát triển mạnh ở những ruộng lúa cấy mật độ quá dày và nhiều dảnh.
- Những ruộng lúa bón phân không cân đối, bón quá nhiều thì bệnh phát triển mạnh.
- Tất cả các giống lúa đều có thể bị nhiễm bệnh khô vằn nặng.
Phòng trừ:
- Cần phát hiện bệnh sớm để phòng trừ khi tỷ lệ trên 10% số dảnh bị bệnh.
Trừ bệnh bằng các loại thuốc như Validacin 3DD, 5DD, Valicide 3SL, 5SL, Anvil 5SC, Jinggangmeisu…
Nếu bệnh nặng phải phun thuốc 2 lần, lần sau cách lần trước 7 ngày (phun trước khi lúa trổ 5-7 ngày sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất).
Bệch bạc lá vi khuẩn
Triệu chứng:Vết bệnh xuất hiện từ mép hoặc chóp lá, lan dần vào trong phiến lá hoặc kéo dài theo gân chính. Vết bệnh lan rộng theo đường gợn xanh tái, vàng lục, lá nâu, bạc, khô xác.
Trên các giống nhiễm nặng (Bắc ưu 64, Nhị ưu 838, Bắc thơm 67, Bắc ưu 903, Việt lai 20…), vết bệnh biểu hiện điển hình hơn các giống nhiễm trung bình và nhẹ (Q5, Khang Dân, Ải 32…).
Nguyên nhân gây bệnh:Bệnh do vi khuẩn Xathomonas Oryzae gây ra trên lá lúa qua các vết thương xây xát trên lá, nhất là sau các trận mưa, giông, gió.
Đặc điểm:
- Bệnh thường phát sinh từ tháng 8 đến tháng 10.
- Bệnh phát triển mạnh ở nhiệt độ trên 26 độ C, ẩm độ trên 90%.
- Sự phát triển của bệnh còn phụ thuộc vào giống lúa. Vụ mùa đa số các giống lúa lai nhiễm nặng hơn các giống lúa thuần.
- Những ruộng bón phân không cân đối, đặc biệt bón phân đạm muộn, bón nhiều đạm (trên 120kg đạm nguyên chất/ha hay 9 kg ure/sào Bắc bộ - 360m 2) thì bệnh phát triển mạnh. Các chân ruộng trũng, chua, bị che bóng rợp, bệnh cũng nặng hơn.
Phòng trừ:Từ tháng 8-9 bệnh đã xuất hiện trên một số giống lúa lai như Việt lai 20, Nhị ưu 838, Bắc ưu 64, Bắc ưu 903… và lúa hàng hoá như Bắc thơm 67… Nếu điều kiệt thời tiết cuối vụ có nhiều mưa thì sẽ thuật lợi cho bệnh phát triển nhanh. Bệnh bạc lá rất khó trừ nếu để bệnh nặng, việc phun thuốc trừ hiệu quả rất thấp. Vì vậy phải thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, khi bệnh xuất hiện với tỷ lệ 3-5% số lá, phải phun thuốc phòng trừ ngay.
- Các thuốc để trừ bệnh bạc lá: Batocide 12WP, Xanthomix 20WP, PN balacide, Sasa 20WP…
- Nếu bệnh nặng thì phải phun thuốc lại lần 2 cách lần 1 khoảng 5-7 ngày và nên đổi thuốc khác.
Nguồn: Tạp chí Khoa học-Ứng dụng (LHH Nghệ An), số 7-8/2005








