Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 05/09/2008 00:05 (GMT+7)

Bảo tồn, quản lý và sử dụng đất ngập nước ở Việt Nam: Gióng lên tiếng chuông cảnh báo

Khả năng của đất ngập nước

ĐNN là một trong những hệ sinh thái sản xuất hiệu quả nhất và là nơi che chắn cho hành tinh khỏi những hậu quả tồi tệ nhất của môi trường. ĐNN có mối liên hệ đến xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội, an ninh lương thực, nước và sự bền vững của môi trường. Đây cũng là là nơi chứa đựng một số lượng lớn các loài động thực vật, là một phần quan trọng của đa dạng sinh học toàn cầu. Ngoài những vai trò trên, ĐNN ở Việt Nam còn là nơi trữ nước, điều hòa lượng mưa và dòng chảy. Nhiều vùng ĐNN, đặc biệt là rừng ngập mặn, rạn san hô và thảm cỏ biển là môi trường thuận lợi để nhiều loài động vật hoang dã đẻ trứng, nuôi dưỡng, để thực vật sinh trưởng. ĐNN của Việt Nam được coi là nguồn gốc của văn minh lúa nước, cung cấp nguồn thức ăn lớn cho con người. Tài nguyên này hiện nay còn giúp Việt Nam phát triển kinh tế du lịch.

ĐNN vùng ven biển Việt Nam được chia thành 6 tiểu vùng duyên hải khác nhau dọc theo bờ biển: từ Móng Cái đến Đồ Sơn, Đồ Sơn đến cửa sông Lạch Trường, cửa sông Lạch Trường đến mũi Hải Vân, mũi Hải Vân đến mũi Hồ Tràm, mũi Hồ Tràm đến mũi Gành Rái, Mũi Gành Rái đến Hà Tiên. Ở mỗi tiểu vùng duyên hải, đang bộc lộ trình trạng sử dụng thiếu phù hợp và quản lý không theo quy hoạch tài nguyên ĐNN. Ngoài raViệt Nam còn có 68 khu ĐNN nội địa và ven biển, với diện tích khoảng hơn 10 triệu ha, trong đó có nhiều khu ĐNN có tầm quan trọng quốc tế như: Hồ Ba Bể (Vườn quốc gia Ba Bể), khu cửa sông Hồng Tiền Hải, U Minh Thượng, mũi Cà Mau và khu ĐNN Côn Đảo…

Thực trạng quản lý và sự quản lý bảo vệ giữ gìn đất ngập nước

Ông Lê Thanh Bình, Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, cũng giống như các nước ở châu Á các vùng ĐNN ở Việt Nam lại là hệ sinh thái bị đe dọa nhiều nhất, đang gánh chịu những tổn thất lớn nhất từ năm 1980 đến nay chủ yếu là do những thay đổi trong sử dụng đất. Việt Nam chưa có đánh giá tổng thể và chưa thể cập nhật thông tin về hiện trạng ĐNN. Khung pháp lý về bảo tồn ĐNN chưa hoàn chỉnh, đầu tư cho bảo tồn, sử dụng và quản lý ĐNN chưa xứng với giá trị và tiềm năng của tài nguyên này. Còn theo GS.TS Mai Trọng Nhuận, Giám đốc trường Đại học Quốc gia Hà Nội, với một vấn đề mang tính liên vùng như ĐNN, một quốc gia không thể tự giải quyết được, mà cần sự chia sẻ của cả một cộng đồng. Đó là lý do cần gióng tiếng chuông cảnh báo về bảo tồn sử dụng ĐNN ở Việt Nam và châu lục.

Theo các nhà khoa học, tương lai của ĐNN phụ thuộc vào khả năng và nỗ lực trong việc áp dụng các cách tiếp cận quản lý, lồng ghép công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn ĐNN vào quy hoạch bền vững của tất cả các ngành kinh tế. Việc làm cấp thiết hiện nay là phải hành động ngay nhằm giữ gìn ĐNN. Trong đó, khôi phục môi trường suy thoái vùng ĐNN ven biển, đô thị và vùng nước ngọt nhằm chống lại sự đe doạ của các loại bệnh truyền nhiễm đang nổi lên như cúm gia cầm và bệnh sốt rét. Quy hoạch vùng ĐNN có sự tham gia của cộng đồng không chỉ trong công tác quản lý ĐNN mà còn trong quản lý sức khoẻ môi trường và trong quá trình ra quyết định và thực hiện quản lý. Kết hợp tổng hợp kiến thức và khoa học kỹ thuật về sinh thái nhằm xây dựng và triển khai tốt các công cụ bảo vệ các vùng ĐNN đang bị đe doạ, đánh giá tài nguyên thiên nhiên và khoanh vùng sử dụng đất, thiết kế cơ sở hạ tầng thân thiện với hệ sinh thái và các hệ thống theo dõi hệ sinh thái. Phục hồi canh tác sinh thái trong vùng ĐNN để thúc đẩy sản xuất lương thực của tự nhiên nhằm tìm ra phương thức sản xuất nông nghiệp lành mạnh hơn để bảo vệ và nuôi dưỡng môi trường ĐNN. Liên kết các sáng kiến phát triển với các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học nhằm cùng lúc nâng cao chất lượng cuộc sống và chất lượng môi trường ĐNN, chú trọng đến các mục tiêu cải thiện sinh kế nông thôn song song với việc bảo tồn đa dạng sinh học một cách có quy hoạch và phối hợp chặt chẽ. Cần tìm ra các phương pháp bảo tồn, khôi phục và sử dụng hợp lý tài nguyên ĐNN cần thiết, hiệu quả, tiết kiệm chi phí với mục tiêu giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu lâu dài, đề ra quy định về việc lồng ghép hay tổng hợp các thông tin về biến đổi khí hậu vào các quy hoạch.

Nguồn: T/c Kinh tế sinh thái, số 25, 2008, tr 42

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.