Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 09/07/2007 23:02 (GMT+7)

Bàn về khái niệm từ Việt cổ

Đương nhiên, bên cạnh giá trị và đóng góp, công trình nghiên cứu nào cũng có thể mắc một vài khuyết điểm cần sự bổ sung, sửa chữa của nhiều người. Lí thuyết chữ Nôm văn Nômcũng vậy, những ai đọc qua quyển sách ấy sẽ dễ dàng nhận thấy giá trị và đóng góp to lớn của nó, còn ở đây, chúng tôi với tư cách là người có chút tâm đắc với thứ văn tự xa xưa của dân tộc, xin mạn phép trình bày đôi điều chưa thoả đáng (theo chúng tôi) trong sách.

Những điều chúng tôi trình bày dưới đây xuất phát từ mục Các từ Việt cổ trong văn thơ Nômbắt đầu từ trang 348 của cuốn sách nói trên.

Trước tiên, xin xác định khái niệm từ cổ trong tiếng Việttừ Việt cổ.

Khái niệm từ cổ trong tiếng Việt

Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992, mục cổ ngữ(tức từ cổNĐT): tiếng nói ngày xưa;

Hiện đại Hán ngữ từ điển, Lã Thúc Tương (chủ biên), Thương vụ ấn thư quán xuất bản, Trung Quốc, 1998, mục cổ ngữ: cổ đại đích từ ngữ (từ ngữ xưa);

Tác giả Nguyễn Ngọc San cũng đưa ra nhận định về từ cổnhư sau: “Từ cổ theo quan niệm truyền thống không phải là những từ có lịch sử lâu đời nhất trong một ngôn ngữ, mà là những từ đã được lưu lại trong các văn bản viết cổ hay văn miệng cổ (ca dao, tục ngữ) mà hiện nay không còn được sử dụng nữa, và để hiểu được chúng, người ta phải dùng đến các loại từ điển từ nguyên và các từ điển điển cố…” (3).

Qua ba định nghĩa trên, chúng ta thấy từ cổlà những từ ngữ (hoặc tiếng nói) được sử dụng vào thời xưa trong ngôn ngữ của một dân tộc. Tuy nhiên, ba định nghĩa trên vẫn chưa xác định đầy đủ tiêu chí của khái niệm từ cổ. Trên thực tế, khái niệm này “vốn là một khái niệm không được rõ ràng” (4). Theo chúng tôi, từ cổtheo nghĩa chung phải là những từ được sử dụng vào thời xưa của một dân tộc, có nguồn gốc bản xứ hoặc vay mượn từ một / các ngôn ngữ khác (cùng hệ hoặc không cùng hệ) và hiện nay không còn được sử dụng trong ngôn ngữ của dân tộc đó (Đúng là để hiểu được chúng, người thời nay “phải dùng đến các loại từ điển từ nguyên và từ điển điển cố”).

Như vậy, từ cổ trong tiếng Việt là những từ được dân tộc ta sử dụng vào thời xưa, có nguồn gốc bản xứ hoặc vay mượn từ các nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer, Tày – Thái, Mường, Hán (có thể cả ngôn ngữ châu Âu) và hiện nay không còn được sử dụng trong tiếng Việt.

Khái niệm từ Việt cổ

Từ khái niệm rộng về từ cổ trong tiếng Việtnhư trên, chúng ta dễ dàng đi đến xác định khái niệm hẹp về từ Việt cổnhư sau, đó là những từ được dân tộc ta sử dụng vào thời xưa, có nguồn gốc bản xứ hoặc vay mượn từ các nhóm ngôn ngữ cùng hệ (Mon-Khmer, Tày – Thái, Mường) và hiện nay không còn được sử dụng trong tiếng Việt.

Hai khái niệm từ cổ trong tiếng Việttừ Việt cổkhông hoàn toàn trùng khớp với nhau. Chúng không phải là hai vòng tròn giao nhau mà là hai vòng tròn đồng tâm có đường kính khác nhau. Trong quyển sách của mình, Nguyễn Ngọc San đã đánh đồng hai khái niệm trên nên đưa ra danh sách các từ Việt cổ trong văn thơ Nôm nhầm với rất nhiều từ gốc Hán. Chúng tôi xin trình bày cụ thể như sau:

1. Mượn từ Hán Việt

Từ Hán Việt là bộ phận rất quan trọng trong từ vựng tiếng Việt. Theo nguyên tắc, mỗi chữ Hán đều có một hoặc vài âm Hán Việt, nhưng không phải âm Hán Việt nào cũng du nhập vào tiếng Việt trở thành từ Hán Việt. Tuy nhiên, trong các văn bản Nôm, đôi khi cũng sử dụng cả một số âm / từ Hán Việt không thông dụng trong tiếng Việt hiện đại. Các từ Việt cổ trong văn thơ Nômcó cả hai trường hợp như thế.

- Từ Hán Việt thông dụng:

Gián (can gián, khuyên can): Tính cương ai gián chẳng nghe mọi điều(tr.391 – 392);

Kham (cam chịu, chịu đựng): Kham cười anh vũ mắc chưng lồng(tr.398);

Loạn thường (là rối loại cương thường): Xây trồng ra thói trăng hoa loạn thường(tr.408);

Nghiệt (yêu nghiệt, tội ác): Chút còn dư nghiệt ngoài thành khoe khoang(tr.429);..

- Âm / từ Hán Việt không thông dụng:

Chủ quỹ (người vợ cả): Hiềm trong chủ quỹ chưa hoà có ai(tr.370);

Mâu (con người, tròng mắt): Mâu tử là đôi con mâu(tr.371);

Na (ôn dịch): Đốt trúc khuơ na dắng lỗ tai(tr.420);

Tẫn mẫu (cái và đực): Tẫn mẫu sấp ngửa bày úp che(tr.452);…

Ngoài ra, còn có thể kể ra nhiều từ khác như đàn hặc, tiên sàm, gia nương…đều là từ Hán Việt. Nhưng mỗi trường hợp chúng tôi chỉ nêu ra vài ví dụ minh hoạ. Những từ ngữ trên tuy xuất hiện trong văn bản Nôm nhưng không phải ghi từ Việt cổ mà là những đơn vị từ vựng được ghi bằng chữ Nôm vay mượn cả âm và nghĩa chữ Hán (từ gốc Hán). Những chữ này khi xuất hiện trong văn bản chữ Hán thì chúng hoàn toàn là chữ Hán. Chỉ khi nào chúng xuất hiện trong văn bản Nôm mới được gọi là chữ Nôm. Nếu liệt kê những từ ngữ trên vào danh sách từ Việt cổ thì có lẽ tất cả từ Hán Việt mà hiện nay tiếng Việt sử dụng đều là từ Việt cổ.

2. Mượn từ tiền Hán Việt

Từ tiền Hán Việt cũng là một bộ phận của từ vựng tiếng Việt. Bộ phận này nếu không phân biệt kĩ sẽ dễ nhầm lẫn với từ Hán Việt hoá và nghĩa của chữ. Các từ Việt cổ trong văn thơ Nômkhông có sự nhầm lẫn như thế nhưng lại xem lớp từ này là từ Việt cổ.

- bượp(âm Hán Việt là phạp: thiếu): Đời bượp văn chương uổng mỗ danh(tr. 362). Phạpbượpcó mối quan hệ về ngữ âm, chúng biến đổi theo một quy luật ngữ âm nhất định. Chúng tôi xin đưa ra một vài ví dụ tương tự về sự biến đổi ngữ âm từ Hán Việt - từ tiền Hán Việt để chứng minh cho quy luật này như sau (mỗi từ phía dưới chúng tôi làm giống như vậy):

nạp nợp/ nượp(nờm nợp/ nườm nượp);

[ lâm] lạp [ ] [ lượm] lượp(đông đảo);

hạp   hộp;

nam nôm/ nồm;

- chiềng(âm Hán Việt là trình: tâu trình, tuyên bố): Chiềng làng chiếng chạ thượng hạ tây đông(tr. 368). Ví dụ tương tự:

tỉnh      giếng;

kính     kiếng;

chinh giêng;

chinh   chiêng;

thinh linh/ thanh lanh             thiêng liêng;

thành   thiềng…

- nàn(âm Hán Việt là nạn: điều rủi ro nguy hại): Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương(tr. 422).

Ví dụ tương tự:

loạn    loàn;

tự         từ;

nguyện            nguyền;

dụng    dùng;

niệm    niềm;

vạn      vàn;

nệ       nề;

cộng    cùng…

- tày / tầy (5)(âm Hán Việt là tề: ngang bằng): Chúc thánh cho tày Nghiêu Thuấn nữa(tr. 451). Ví dụ tương tự:

(tê giác)       tây;

thế      thay(6);
lễ         lạy;

phi       bay;

thi        thây…

Các từ bượp, chiềng, nàn, tàyrõ ràng không phải là từ Việt cổ vì chúng chẳng những có quan hệ về ngữ âm mà còn có quan hệ về ngữ nghĩa với các từ phạp, trình, nạn, tềtrong tiếng Hán. Mặt khác, nếu đó là những từ Việt cổ thì tại sao hiện nay không ít từ vẫn còn được sử dụng trong tiếng Việt (như phàn nàn, tày trời,hay như đìa(ao hồ), cúng dàng, xum vầy…mà tác giả đã liệt kê trong sách.

Theo chúng tôi, những từ Hán Việt và tiền Hán Việt trên đây không phải là từ Việt cổ, riêng những từ hiện nay không còn sử dụng ( na, tẫn mẫu, bượp…) chỉ có thể gọi là từ cổ trong tiếng Việt.

3. Dịch nghĩa chữ Hán

Xét các mục từ được giải thích trong sách như sau:

- con tuyết: kĩ nữ: Cắp cầm con tuyết tình cờ đến(tr.371);

- nhà tĩnh:nơi ở của các sư tăng: Không môn già lam, tĩnh xá: nhà tĩnh(tr.429);

- nước trăng:kinh nguyệt: Tự nhiên phải khí dương âm, nước trăng tự ấy ai cầm chẳng ra(tr.435)..

Chúng tôi thấy xếp các từ ấy vào dạng từ cổ là chưa thuyết phục. Vì: thứ nhất, chúng ta không thật sự khó hiểu đối với người hiện nay; thứ hai, chúng là những từ được chuyển dịch từ chữ Hán thì đúng hơn.

- con tuyết được dịch từ tuyết nhi( nhilà ‘con’), nghĩa là người con gái trẻ xoa kem trắng trên mặt, chỉ những cô gái làm việc trong lầu xanh (7).

- nhà tĩnhđược dịch từ tĩnh xáhoặc tĩnh thất( là ‘ngôi nhà đơn sơ’, thấtlà ‘nhà ở’) nghĩa là ngôi nhà yên tĩnh để tụ tập.

- Về từ nước trăngchúng tôi lí giải như sau: kinh nguyệtlà hiện tượng sinh lí của phụ nữ, có yếu tố nguyệtlà trăng, tháng. Kinh nguyệtcòn một từ đồng nghĩa là kinh thuỷ(8), có yếu tố thuỷlà nước. Vậy nước trănglà dịch kết hợp từ thuỷtrong kinh thuỷvới chữ nguyệttrong kinh nguyệt. Nướctrăng(cũng như thuỷnguyệt) đều là những từ thông dụng hiện nay, và nước trăngchỉ là một cách dịch chữ Hán của người xưa để chỉ kinh nguyệt chứ không phải từ Việt cổ.

Bên cạnh đó, ngoài từ Hán Việt và tiên Hán Việt đã nói trên, chúng tôi thấy sách còn thu nhận cả từ Hán Việt Việt hoá, đó là vỗ(9)(âm Hán Việt là phủ) trong câu Đức muôn vỗ chúng ân ngàn trị dân(tr. 473).

Trên đây chúng tôi trình bày một vài thiển ý mong có thể phần nào làm sáng tỏ vấn đề từ Việt cổ và những từ được cho là từ Việt cổ trong Lí thuyết chữ Nôm văn Nôm, nếu có gì sai sót xin quý vị độc giả chỉ giáo để chúng tôi có dịp học hỏi thêm.

-----
Chú thích:

(1)   Nguyễn Ngọc San, Lí thuyết chữ Nôm văn Nôm, Nxb, Đại học Sư phạm, 2003.

(2)   Quyển sách được in với sự tài trợ của qũi hỗ trợ và phát triển văn hoá Việt Nam - Thuỵ Điển.

(3)   Nguyễn Ngọc San, Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, Nxb, Đại học Sư phạm, 2003.

(4)   Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, sđd.

(5)   Trong Tiếng nói nôm na (Nxb Văn nghệ Tp. HCM, 1999), Lê Gia cho rằng chữ này có nguồn gốc từ chữtài (cắt cho bằng), đó cũng là điều nhầm lẫn.

(6)   Trong Tìm về cội nguồn chữ Hán (Nguyễn Văn Đổng dịch), Nxb Thế giới, 1997, Lý Lạc Nghị cho rằngthay là âm Hán Việt Việt hoá của thế.

(7)   Trong Bắc mộng toả ngôn có ghi câu chuyện khác: Tuyết Nhi là vợ lẽ của Lý Mật, giỏi ca múa. Mỗi khi tân khách có văn chương hay, Lý Mật đều bảo Tuyết Nhi hiệp âm luật để ca múa làm vui.

(8)   Theo Từ Nguyên, Thương vụ ấn thư quán, Đài Loan, 1963 và Từ Hải, Trung Hoa thư cục ấn hành 1967.

(9)   Trong Tiếng nói nôm na, sđd, Lê Gia cho rằngvỗ (vỗ về) có nguồn gốc từ chữlà múa. Theo chúng tôi, như vậy không đúng.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.
Lâm Đồng: Gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026
Chiều ngày 15/4, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026. Dự và chủ trì Hội nghị có các đồng chí: Y Thanh Hà Niê Kđăm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành và 150 đại biểu trí thức tiêu biểu của tỉnh.