Bàn thêm về vấn đề dân tộc
Cái định nghĩa dân tộc tôi được thấy lần đầu tiên trong các nhà tư tưởng phương Đông là định nghĩa của Tôn Văn trong bài giảng thứ nhất về chủ nghĩa dân tộc đọc ngày 27 tháng 9 năm 1924.
Tôn Văn theo tình hình thực tế của dân tộc Trung Quốc tức Hán tộc mà nêu lên năm yếu tố cơ bản cấu thành dân tộc: Huyết thống, sinh hoạt, ngôn ngữ, tôn giáo, cùng phong tục tập quán. Năm yếu tố ấy là do tiến hoá tự nhiên mà thành chứ không phải là do vũ lực mà chinh phục được. Năm yếu tố nêu lên đó gồm cả yếu tố tự nhiên và yếu tố văn hoá, mà yếu tố văn hoá chiếm phần quan trọng hơn. Trong bài “Suy nghĩ về hai chữ dân tộc” của Lý Chánh Trung (trên báo ở Sài Gòn trước 1975) chúng tôi thấy được nêu lên một cái định nghĩa dân tộc súc tích hơn, có vẻ là một định nghĩa tập đại thành các định nghĩa có tiếng về khái niệm dân tộc của các nhà tư tưởng phương Tây, từ Fitche nước Đức, Renan nước Pháp, đến Bawer nước Áo, Mikhailovski nước Nga. Định nghĩa này đoạn tuyệt hẳn dân tộc với yếu tố tự nhiên, huyết thống mà người ta còn gọi là chủng tộc để hướng sự cấu thành dân tộc vào yếu tố văn hoá và lịch sử, đó là ưu điểm của nó so với định nghĩa của Tôn Văn. Lý Chánh Trung cho rằng “Yếu tố cấu tạo dân tộc chính lá cái môi trường văn hoá đương giữ gìn và nuôi dưỡng chúng ta… Lịch sử là yếu tố cấu tạo thứ hai của dân tộc”.Văn hoá là gồm toàn thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo để dần dần thoát khỏi thân phận con vật mà tiến lên thân phận con người chân chính, con người với ý nghĩa càng ngày càng đầy đủ của nó. Nhưng cái môi trường văn hoá độc đáo của một dân tộc cũng như cái lịch sử độc đáo của một dân tộc không có thể tồn tại lững lờ trên không mà phải là tồn tại trên một cơ sở cụ thể là miếng đất ở chung với những phương tiện giao lưu thường xuyên với nhau của những con người sống trên miếng đất chung ấy để duy trì và phát triển đời sống, tức những con người có ngôn ngữ chung và sinh hoạt kinh tế chung cho nên ba yếu tố miếng đất chung, ngôn ngữ chung và sinh hoạt kinh tế chung, chính là ba yếu tố cơ bản nhờ chúng mà mà hình thành được cái diện mạo độc đáo của một dân tộc được biểu hiện ở một nền văn hoá chung. Lịch sử chính là cái điều kiện cơ bản về thời gian để có các yếu tố trên phát triển đến mức độ đầy đủ để người ta nhận thấy cái diện mạo độc đáo của dân tộc đó. Một bộ lạc hay một liên hợp bộ lạc cũng có miếng đất ở chung, ngôn ngữ chung, văn hoá chung mà sao lại chưa có thể gọi là dân tộc được, là bởi trong lịch sử của loài người, dân tộc là chỉ những cộng đồng người ổn định mà các bộ lạc và liên hợp bộ lạc chưa phải là những cộng đồng ổn định. Dân tộc là những cộng đồng người ổn định chỉ xuất hiện trong những điều kiện lịch sử nhất định, có thể do quá trình phân hợp xảy ra trong lịch sử mà thay đổi nhiều.
Do những lẽ trên, chúng tôi thấy cái định nghĩa dân tộc của các nhà lý luận mác-xít mà Stalin đã diễn đạt trong tập sách Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc(1913) hợp lý và đầy đủ hơn: “Dân tộc là một cộng đồng người, ổn định, cấu thành trong lịch sử, xuất hiện trên cơ sở một ngôn ngữ chung, một lãnh thổ chung, một sinh hoạt kinh tế chung và một hình thái tâm lý chung biểu hiện ở trong một nền văn hoá chung”(…).
Trong thời gian viết sách Lịch sử Việt Namtôi đã bắt đầu nghiên cứu sự hình thành của dân tộc Việt Nam. Sau đó, tôi định đi sâu hơn vào vấn đề ấy mà viết một tác phẩm chuyên đề là Sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam.Tôi đã viết đi viết lại hai lần mà vẫn không lấy làm thoả mãn. Mặc dầu tôi có nêu được một điểm đặc biệt là nhân tố chính trị trong sự hình thành của dân tộc Việt Nam, và xem nhân tố ấy là nhân tố quyết định nhất cho sự biến chuyển phẩm chất của cộng đồng Việt Nam thành dân tộc. Trong khi lấy định nghĩa của Stalin (1) làm ức thuyết nghiên cứu, tôi vẫn mắc cái nhược điểm là xếp đặt bốn yếu tố cấu thành ấy một cách máy móc và mô tả sự phát triển của mỗi yếu tố ấy một cách hầu như cô lập, mà chưa nêu lên được mối quan hệ hữu cơ biện chứng giữa chúng ở trong một tổng thể.
Tôi thấy rằng sở dĩ không thể thành công được trong công việc ấy là bởi với tài liệu còn rất sơ sài, tôi đã vội có ý để xử lý một vấn đề tổng hợp quá lớn. Trước hết cần phải nghiên cứu sự hình thành và sự phát triển của mỗi nhân tố, rồi mới do đó đi sâu vào mỗi nhân tố mà thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa chúng và tìm xem cái gì là lực lượng tập hợp tất cả những nhân tố ấy làm dân tộc. Trong sự hình thành của các dân tộc phương Tây, kể cả các dân tộc của Liên Xô, sinh hoạt kinh tế đúng là cái yếu tố “nhảy vọt” do chủ nghĩa tư bản tạo nên để khiến cái cộng đồng gọi là “nationalité” tức tiền dân tộc hay bộ tộc trở thành dân tộc.
Nhưng chưa hẳn đối với tất cả các dân tộc châu Á và châu Phi sự tình là như thế. Ở nhiều nước này, ở Việt Nam thì càng rõ ràng lắm, nếu đòi cho có sự liên hệ kinh tế thường xuyên giữa tất cả các bộ phận trong nước và có thị trường chung cho cả nước thì phải chờ đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển dưới ách đô hộ của chế độ thực dân mới có dân tộc. Nhưng sự thực lịch sử cho ta thấy rằng từ thời Lý - Trần, tinh thần làm chủ non sông đất nước, tinh thần tự chủ dân tộc đã mạnh mẽ lắm. Câu thơ của Lý Thường Kiệt “ Nam quốc sơn hà Nam đế cư” và câu thơ của Trần Nhân Tông “ Xã tắc kỷ hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu” là biểu hiện hùng hồn của tinh thần tự chủ ấy, mà nếu chưa có dân tộc thì làm sao có được cái ý thức dân tộc mãnh liệt ấy? Điều ấy cho chúng ta thấy rằng mặc dầu kinh tế tự cấp của các công xã nông thôn còn chiếm ưu thế, mặc dầu kinh tế ở cả nước còn yếu, cái ý thức chống ngoại xâm thúc đẩy sự đoàn kết giữa các tầng lớp quốc dân và sự tập hợp giữa các miền dưới sự lãnh đạo của một nhà nước tập quyền làm công cụ cho sự đoàn kết và tập hợp ấy, cũng như ở phương Tây chính Nhà nước tập quyền mà người ta gọi là Nhà nước dân tộc đã làm công cụ cho sự khẳng định của các dân tộc tư sản trên cơ sở kinh tế chung do chủ nghĩa tư bản đã tạo nên. Cái ý thức chống ngoại xâm ấy không thể gọi bằng gì khác là ý thức của dân tộc mà xưa nay người ta thường gọi là tinh thần dân tộc. Do đó chúng ta có thể nói rằng trong sự phát triển còn non yếu của yếu tố sinh hoạt kinh tế chung, cũng như của ngôn ngữ chung và lãnh thổ chung, nhân tố tâm lý và nhân tố chính trị do nhu cầu chống ngoại xâm đề ra đã có tác dụng quyết định mạnh trong sự hình thành của dân tộc.
Ý thức dân tộc là gì?
Cũng như ý thức về mình của con người xuất hiện do sự khẳng định cái ta bằng sự phủ định cái không phải ta, ý thức về ta của dân tộc xuất hiện do sự khẳng định cái ta dân tộc bằng sự phủ định cái không phải là dân tộc. Do sự tác dụng lẫn nhau giữa cái ta và cái không phải ta, cái không phải ta càng lớn thì cái ý thức về ta càng mạnh. Dân tộc ta đã tự khẳng định mình trong sự tình chống xâm lược của dân tộc Trung Quốc, dân tộc Trung Quốc lớn mạnh bao nhiêu thì cái ý thức dân tộc của ta càng lớn mạnh bấy nhiêu. Nhưng ý thức ấy không phải là xuất hiện đột nhiên ở một lúc nào mà chính là hình thành dân dần trong lịch sử. Lịch sử cho biết rằng tổ tiên ta là người Lạc Việt, là cộng đồng Việt duy nhất trong số các cộng đồng Việt mà người ta gọi là Bách Việt sống bên cạnh dân tộc Hán đã thoát khỏi sự đồng hoá của người láng giềng lớn mạnh này. Cái số phận duy nhất ấy đã được thực hiện là do tổ tiên chúng ta đã bắt đầu cái nỗ lực tự khẳng định mình một cách vẻ vang trong một cuộc kháng chiến kéo dài 7,8 năm chống quân nhà Tần, là một lực lượng quân sự hùng hậu của dân tộc Hán, để dựng lên một Nhà nước tự chủ do sự đoàn kết của hai liên hiệp bộ lạc Lạc Việt và Tây Âu. Mặc dù sự cố gắng ấy đến thời nhà Hán đã bị bẻ gãy, nhưng trải hơn nghìn năm tổ tiên chúng ta đã không chịu tự thủ tiêu mà luôn luôn vùng dậy dưới ách đô hộ để cuối cùng lật đổ được quyền thống trị ngoại tộc mà tự khẳng định mình một cách vững vàng. Qua những bước đầu chập chững của các triều Ngô, Đinh, Lê, đến thời Lý, Trần, tổ tiên chúng ta đã xây dựng được cái công cụ vững chắc của sự đoàn kết và tập hợp dân tộc là Nhà nước tập quyền. Dân tộc Việt Nam xuất hiện với ý thức ngoan cường về ta đã lớn mạnh dần dần trong một cuộc chống đối bất khuất hàng nghìn năm nữa đối với các triều đại phong kiến phương Bắc và với các lực lượng tàn bạo nhất của thực dân và đế quốc phương Tây để cuối cùng hoàn thành cái sứ mệnh đứng mũi chịu sào của một dân tộc anh hùng.
Có ý thức về ta như thế, dân tộc là một thực tại, là một nhân cách chứ không phải chỉ là tổng số của mấy chục triệu người, cho nên nói rằng dân tộc là một thực tại siêu việt là đúng, siêu việt đối với mỗi người, có trước mỗi người, và còn có lâu dài hơn cá nhân. Nhưng nói rằng dân tộc là một thực tại sơ khởi là và trường tồn như ông Lý Chánh Trung mà không chỉ rõ rằng sơ khởi và trường tồn với ý nghĩa tương đối thì sợ rằng vô hình trung đã biến dân tộc từ một cái thực tại siêu việt với ý nghĩa vượt khỏi cá nhân thành một cái thực tại siêu việt tuyệt đối như Bản thể, như Thần, như Đạo, tức cho dân tộc một nội dung thần bí. Cũng như cho cái nhân cách của con người, nhân cách của dân tộc không phải là có sẵn mà là trở thành, một thực tại trở thành trong lịch sử, nhưng lại là một thực tại, một cơ cấu vừa duy nhất, vừa toàn thể, chính vì nó là duy nhất nên nó cũng là toàn thể. Cũng như đối với con người, cái ý thức về ta là cái ý thức về giá trị duy nhất và toàn thể của mình, đối với dân tộc và cái ý thức về ta cũng là cái ý thức về giá trị duy nhất và toàn thể của mình.
Cái ý thức ấy, như đã nói ở trên, xuất hiện trong tư thế đối lập với cái khác ta. Cũng như ý thức của con người khi đã xuất hiện thì nó có tồn tại và tác dụng độc lập không bị luôn luôn lệ thuộc vào cơ sở vật chất của nó, ý thức về dân tộc cũng có tồn tại và tác dụng độc lập chứ không phải là luôn luôn phải có đối tượng cho nó đối lập. Bình thường thì nó biểu hiện trong cái tinh thần đoàn kết nhau, đùm bọc nhau mà tổ tiên chúng ta nói trong câu ca dao: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”.
Mỗi khi dân tộc có đối tượng để đối lập thì ý thức dân tộc lại trở nên mạnh mẽ đặc biệt. Ví dụ ở trong mối tình nồng nàn thắm thiết mỗi khi ở trên đất khách mình gặp được một người đồng hương, một người đồng bào. Chính cái ý thức có tồn tại và tác dụng độc lập ấy khiến trong những thời gian mà lãnh thổ dân tộc bị chia cắt do sự cạnh tranh giữa các tập đoàn phong kiến thống trị thì người Đàng Trong và Đàng Ngoài, người Nam người Bắc không một giây phút nào là không cảm thấy cái tình máu mủ ruột thịt với nhau, cho nên khi quân Mãn Thanh xâm lược Thăng Long thì quân Nguyễn Huệ ở Nam ra giúp đồng bào Bắc Hà mà quét sạch quân xâm lược. Cũng do ý thức mạnh mẽ ấy mà những kiều bào của chúng ta ở hải ngoại, mặc dầu không cùng sống trên cùng một miếng đất Tổ quốc, có khi không thường nói tiếng mẹ đẻ, mà vẫn quần tụ nhau thành một tập thể dân tộc. Gầy đây có một số người Công giáo có ý thức rằng trong suốt bốn trăm năm nền giáo sử của tập thể mình đã sống ở ngoài lề dân tộc, với một tôn giáo có tính chất ngoại quốc cả hình thức và nội dung, nên họ chủ trương “Đường về dân tộc” (Nguyễn Tử Lộc) hay “Việt hoá đạo Công giáo ở Việt Nam” (Linh mục Trương Bá Cần). Điều ấy chứng tỏ rằng trong giới Công giáo mà ông Hồ Vương, một người công giáo thừa nhận rằng lâu nay “đã từng và đang tỏ ra thiếu ý thức dân tộc”, cái ý thức dân tộc đương dần dần trở lại. Sở dĩ có điều biến chuyển ấy là bởi cuộc thử thách sinh tử tồn vong mà dân tộc ta phải đương đầu hiện nay chính là điều kiện kích thích cho ý thức dân tộc của nhân dân Việt Nam vùng mạnh lên hơn bao giờ hết. Chỉ ở những kẻ bán nước đủ các loại, đủ các cỡ, cái ý thức dân tộc mới bị những quyền lợi nhất thời đè nén khiến chúng cam lòng bán nước hại dân để làm tay sai cho giặc. Nhưng trước những kỳ tích anh hùng thần thoại của dân tộc, chính trong đám đó cũng sẽ có những kẻ hồi đầu mà trở về dân tộc, vì trong tâm khảm họ cái ý thức dân tộc vẫn còn như điểm lửa ly ti, có thể nhờ bão táp dân tộc thổi bốc lên mà thiêu huỷ những tội ác của chúng. Ý thức dân tộc là kỳ diệu như thế.
Ý thức dân tộc khiến người ta nghĩ đến tâm hồn dân tộc. Người ta nói đến tâm hồn Nga (âme russe) với tình say sưa yêu thiên nhiên của Tachiania, nhân vật của Putskin, và lòng yêu đất nước mãnh liệt của Taras Bunba, nhân vật của Gôgôn, đến tâm hồn Nhật (âme japonaise) liên hệ với tinh thần võ sĩ đạo, với nghi lễ uống trà, vời lòng yêu quí trẻ con và hoa anh đào.
Tâm hồn Việt Nam là cái gì? Thực cũng khó nói, vì trước nay không thấy nhà tư tưởng nào đặt thành vấn đề để suy nghĩ tìm tòi, mà các nhà thơ nhà văn cũng không thấy dựng được những nhân vật có thể tiêu biểu cho tâm hồn dân tộc. Thuý Kiều là một nhân vật vốn do Thanh Tâm tài nhân xây dựng mà Nguyễn Du chỉ gọt đẽo lại để gia cho nó một ít nét Việt Nam, chưa có thể xem là một nhân vật tiêu biểu chân chính cho tâm hồn dân tộc. Có lẽ cái lòng nhớ thương đau đớn của Nguyễn Trãi đối với giang sơn và mồ mả tổ tiên nổi bật trong Quốc âm thi tậpvà Ức trai thi tập, cái lòng nhớ thiết tha mãnh liệt xô đẩy bao nhiêu dòng người trong mấy ngày cuối năm từ mọi phương đổ về ăn Tết ở quê nhà mà ông Lý Chánh Trung đã nói đến, là một khía cạnh của tâm hồn Việt Nam.
Tâm hồn ấy, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng trở thành lòng yêu nước quật cường của người dân Việt Nam thà chết chứ không chịu mất nước mất nhà. Cái tình đồng cam cộng khổ và với tình nghĩa thuỷ chung với nhau thấy rõ nhất trong nông dân ta có lẽ cũng là những khía cạnh khác của tâm hồn Việt Nam. Người dân Việt Nam sống trên mảnh đất đồng bằng hay thung lũng lầy lội đã đổ bao nhiều mồ hôi mà kinh dinh những vũng bùn thành mảnh đất cấy trồng, để mồ mả tổ tiên ở đấy, dựng gian lều tranh ở đấy mà thờ phụng tổ tiên, mặc dầu trải bao nhiêu lần giặc xâm lăng đốt phá vẫn thế hệ này kế tiếp thế hệ khác bám lấy đất, đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt mà dựng lại nhà, sửa lại mả mồ, để sống chết ở chốn chôn rau cắt rốn. Những người nông dân ấy thể nghiệm trong máu thịt rằng rời khỏi mảnh đất quê hương thì không thể nào sống được một mình, cho nên mọi người đều thấy rằng bám lấy đất và bà con xóm giếng tức là bám lấy nguồn sống của mình. Cái tinh thần an thổ trọng thiên, cái tâm lý khỏi nhà ra thất nghiệp buộc chặt người nông dân vào cộng đồng nông thôn là một sức mạnh thần kỳ đã khiến cộng đồng nông thôn và cộng đồng dân tộc ta trải qua bao nhiêu lần bị dày xéo tàn phá mà cuối cùng vẫn như Phù Đổng đứng dậy ra khỏi nôi mà bay nhảy giữa các bụi tre, hiên ngang và hùng cường hơn bao giờ hết.
Gần đây người ta lại thường hay nói đến tính cách dân tộc hay dân tộc tính, nhất là trong văn nghệ. Khi nói đến dân tộc tính người Pháp, người ta thường nêu tính thích chính xác, thích rõ ràng, tính cởi mở, tính khôi hài vui vẻ. Khi nói đến dân tộc tính người Anh, người ta thường nêu lên tính lãnh đạm, tính phớt đều, tính hài hước tưng tửng. Dân tộc Việt Nam là gì? Cũng chưa thấy có ai nghiên cứu vấn đề một cách khoa học mà chỉ theo cảm tính để đoán mò rằng dân tộc tính Việt Nam là cái này, là cái kia.
Tuỳ theo thiên hướng của mỗi người, người thì cho là yêu tự do độc lập, người thì cho là tính lao động cần cù, chịu thương chịu khó, người thì cho là tính giản dị, tính thực tiễn, người thì cho là tính tế nhị, tính châm biếm. Cuối cùng chúng ta vẫn chưa có thể nói chắc chắn rằng dân tộc tính Việt Nam là cái gì. Vấn đề ấy vốn là rất khó, vì đúng như Stalin đã nói: “Dân tộc tính là một cái gì không thể nắm được đối với người nhìn mà chỉ có thể nắm được qua cái độc đáo của nền văn hoá chung của dân tộc”. Nhà học giả Áo Bauer do Stalin dẫn thì nói rằng dân tộc tính là “tổng số những yếu tố khiến người một dân tộc này khác với một dân tộc kia, tổng thể những tính chất thân thể và tinh thần phân biệt dân tộc này với dân tộc khác”. Theo định nghĩa nào đi nữa, hoặc là cái được biểu hiện trong cái độc đáo của một nền văn hoá chung, hay là những tính chất phân biệt của dân tộc, cũng phải có nhiều công trình nghiên cứu về nhiều khía cạnh thì mới kết luận được, chứ hiện nay nói đến dân tộc tính là chỉ nói mò.
Còn như truyền thống của dân tộc mà hiện nay trong mọi lĩnh vực của cuộc sống sinh hoạt vật chất và tinh thần chúng ta đương tìm để học tập, từ kỹ thuật canh tác của nông nghiệp đến chiến thuật chiến lược về quân sự, cho đến cả truyền thống về giáo dục, về đạo đức. Cố nhiên là chúng ta chỉ học những truyền thống tốt. Nhưng tại sao lại phải học tập truyền thống? Trải qua cuộc đấu tranh sản xuất và xã hội lâu dài để sống còn, dân tộc ta đã tạo nên nhiều giá trị vật chất và tinh thần, có những giá trị chỉ thích hợp với thời xưa mà không thích hợp với thời nay, có những giá trị có tác dụng nhất thời và những giá trị có tác dụng lâu dài. Có những kinh nghiệm, những phương tiện, những giá trị đã giúp cho tổ tiên ta bảo toàn và phát triển đời sống của mình, những giá trị do sự chọn lọc và thử thách của lịch sử, của thời gian nhân dân ta đều đã nhận thấy là hay là tốt. Đó là những truyền thống dân tộc tốt, những cái người ta gọi là tinh hoa của dân tộc, cái mà chúng ta cần học tập. Còn những giá trị lỗi thời, chỉ khiến người ta lui về qua khứ mà không có tác dụng hướng lên thì tuy là của dân tộc tạo nên ở một thời nào, nhưng đến bây giờ không còn có tác dụng cho dân tộc nữa thì đã trở thành bảo thủ, phản dân tộc vì cản trở bước tiến lên của dân tộc. Vì thế có thể nói rằng dân tộc không những là truyền thồng mà cũng là tiến bộ, truyền thống và tiến bộ là hai mặt biện chứng có tác dụng đi lại với nhau để làm giàu và thêm sức mạnh cho nhân cách của dân tộc (…).
Trong khi suy nghĩ về dân tộc, tôi thử tìm xem trong các nhân vật lịch sử có những ai có thể xem là những nhân vật tiêu biểu cho dân tộc để có thể lấy làm đối tượng cụ thể mà đi tìm những cái mà người ta gọi là tâm hồn dân tộc, tính cách dân tộc, truyền thống dân tộc thì tôi thấy rằng trong lịch sử dân tộc ta có hai vị anh hùng có thể tiêu biểu đầy đủ cho dân tộc ở hai giai đoạn lịch sử khác nhau ấy là Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh.
--------
(1).Trong một bài luận văn của J.Chesnaux về “Sự hình thành các dân tộc châu Phi châu Á” đăng trong Tạp chí Tư tưởng(La pensée) số 119 năm 1953, ông đã nói rằng định nghĩa của mấy nhà xã hội học tư sản như Mauss, hay định nghĩa của sách Từ điển tân thế giới(New World Dictionnary) của Webetor: “Một cộng đồng người ổn định…”.








