Bài đồng dao ở một miền quê
Đồng dao là thể loại dân gian truyền miệng của trẻ nhỏ tham gia một trò chơi nào đó, đôi khi chỉ cốt liên vần, dễ nhớ, dễ thuộc. Nhưng cũng có bài rất hoàn chỉnh vì có sự gọt sửa của người lớn. Có thể trong khi đám trẻ chơi trò nào đó, bỗng một em xướng lên một câu, rồi các em khác thêm vào theo chủ đề và cái mạch ban đầu, khi đã đủ độ dài nhất định mới thôi.
Trẻ vốn vô tư, nên rất dễ nhớ đồng dao, rồi bất chợt một lúc nào đó lại hát lên. Có thể một tối trăng lên, hay buổi trưa hè, hoặc một chiều chăn trâu cắt cỏ trên cánh đồng lộng gió. Người lớn nghe được liền sửa những câu vô nghĩa thành một bài đồng dao hoàn chỉnh.
Bài đồng dao tôi ghi lại dưới đây có thể ra đời từ thời Nguyễn, vì mở đầu có nói đến ông Chánh, ông Chánh Tổng thường là người giàu có, để có thể cho các em xôi:
“Đến chơi ông Chánh /Ông Chánh cho xôi /Đến chơi nhà nồi /Nhà nồi cho vung /Đến chơi cây sung /Cây sung cho nhựa /Đến chơi nhà ngựa /Con ngựa cho loan /Đến chơi nhà quan /Nhà quan cho bạc /Đến chơi nhà bác /Nhà bác cho bầu /Đến chơi cần câu /Cần câu cho lưỡi /Đến chơi cây bưởi /Cây bưởi cho hoa /Đến chơi cây cà /Cây cà cho trái /Đến chơi con gái /Con gái cho chồng /Đến chơi đàn ông / Đàn ông cho vợ...!”
Bài đồng dao ngồ ngộ quá. Các em đến chơi chỗ nào, từ con người, tới động - thực vật, hoặc một vật dụng nào đó, tất cả đều như có hồn, tất cả đều rất tốt với các em, không tiếc một thứ gì để cho. Nhưng 11 thứ xin được, có 4 thứ các em không thể nào yên tâm mà nhận bởi: Nồi mà cho mất vung thì còn đun nấu gì được? Cần câu mà cho mất lưỡi thì câu sao được cá? Lại còn con gái mà cho mất chồng thì hỡi ôi!... Và đây nữa, đàn ông mà cho mất vợ thì... ai nào nỡ nhận! Nhưng chẳng lẽ 11 thứ cho bởi lòng mến yêu trẻ nhỏ, mà lại trả có 4 thứ thì cũng rất hẫng hụt! Thôi thì đã trả thì trả hết, thế là các em lại hát:
“Trả vợ đàn ông /Trả chồng con gái /Trả trái cây cà /Trả hoa cho bưởi /Trả lưỡi cần câu /Trả bầu nhà bác /Trả bạc nhà quan /Trả loan cho ngựa /Trả nhựa cây sung /Trả vung cho nồi /Trả xôi ông Chánh”.
Các em cứ làm như thật! Đồng dao được lưu truyền từ vùng này sang vùng khác nên khó tránh khỏi “tam sao thất bản”. Có lần tôi đã được đọc bài này in trên sách nhưng khác hẳn bài ghi trên. Có bản lại viết là: “Con ngựa cho gan”. Con ngựa mà cho gan thì chết mất rồi còn gì! Nhưng đó cũng là một dị bản, cũng là một cách nói, cách nghĩ suy rất ngộ của trẻ thơ ở một vùng quê khác. Ở bài này thì “con ngựa cho loan”. Loan là một vật trang trí phủ lên lưng con ngựa khi nó kéo xe của các bậc quyền quý (xe loan) nên con ngựa có cho loan, thì cũng chỉ mất đi một vẻ đẹp, khiến các em có thể nhận.
Cũng có bản chép là: “Xuống chơi ông Chính”. Ông Chính thì chắc không phải, bởi nó là tên một người cụ thể. Nhưng chẳng lẽ lại là: “Xuống chơi ông Chín”. Ông Chín là cái tên thứ tự như ông Tám, ông Chín, thường gọi ở miền Nam . Theo tôi cái câu “Đến chơi ông Chánh” thì đúng hơn, bởi bài đồng dao này rất phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Cũng có người nói: Đây là bài “Ông giẳng ông giăng” trẻ em chỉ hát vào những đêm trăng rằm thì ít có tính thuyết phục, vì bắt đầu: Ông giẳng ông giăng, rồi vào luôn xuống chơi ông Chính, thì không liên vần, nó gượng ép, chệch choạc quá! Tôi đã nghe bài này giữa một chiều quê yên ả, trên một triền đê cỏ non xanh mướt. Xa xa những dãy núi xanh nổi lên giữa một cánh đồng lúa cũng xanh và thấp thoáng cánh cò trắng dập dờn trên ruộng.
Đã gọi là dòng dân gian truyền miệng thì mỗi vùng mỗi khác, hãy cứ chọn lấy một bài có một lôgíc nào đó mà ghi lại.
Qua bài đồng dao trên, thấy được cái ngây thơ, trong sáng của trẻ nhỏ. Đối với cái nhìn của các em, tất cả đều có hồn, sống động. Từ ông quan, ông chánh, đến cây sung, con ngựa, chiếc cần câu, cây bưởi, cây cà, cả đến cái nồi cũng sẵn sàng chia sẻ.
Đây quả là một bài đồng dao hay trong dòng văn hóa dân gian truyền miệng của dân tộc, nó khắc đậm dấu ấn một thời xa xưa đến nay vẫn lưu truyền lại. Nó trong suốt như giọt nước nguồn, cùng với bao bài đồng dao khác, tạo nên dòng suối nhỏ để dồn hòa vào biển cả văn học dân gian, xiết bao bền vững.








