Ba cái chết cho ngôi sao
Khi hết nhiên liệu, ngôi sao chuyển từ kích thước của các sao khổng lồ đỏ (bán kính 50 triệu km ) đến kích thước của trái Đất (bán kính khoảng 6000 km). Ngôi sao trở thành sao lùn. Nó rất nóng vì năng lượng của chuyển động sụp đổ biến đổi ra nhiệt. Nhiệt độ ở bề mặt của nó cấp6000° . Nhiệt đượcbức xạ ra không gian. Màu trắngcủa bức xạ giốngbức xạ Mặt trời nên nó có tên là sao "sao lùn trắng ". Mật độ của nó rất lớn: 1cm 3 sao sao lùn trắng nặng 1 tấn. Nhưng cái gì đã ngăncảnsao lùn trắng không sụp đổ thêm nữa? Ai chống lại trọng lực? Chắc chắn không phải là bức xạ, vì nó đã trở nên rất yếu. Nhà vật lý người Đức Wolfang Pauli, một trong những người sáng lập ra Cơ học Lượng tử, cho chúng ta câu trả lời. Vào năm 1925, ông khám phá ra rằng hai electron không thể bị nén lại với nhau được: chúng loại trừ nhau (khám phá của Pauli được biết dưới tên "Nguyên lý ngoại trừ" . ) Trong lúc sụp đổ, ngôi sao nén các electron mà nó chứa trongmột thể tích càng ngày càng nhỏ. Càng bị nén chặt, các electron càng chống cự và tìm cách trốn thoát. Sự kháng cự này tạo nên một áp lực chống lại trọng lực, làm cho sao lùn không sụp đổ. Sự đẩy lẫn nhau giữa các electron này không phải là do lực điện từ đẩycác điện tích cùng dấu mà là một trong những biểu lộ của Cơ học lượng tử.
Đồng thời với sự sụp đổ của tâm ngôi sao, các lớp tầng bên trên tách ra khỏi ngôi sao. Được chiếu sáng bởi sao lùn trắng, chúng có dạng như một vành đai khí màu vàng và đỏ gọi là "tinh vân hành tinh" , (từ ngữgây hiểu lầm vì những tinh vân hành tinh và hành tinh không liên hệ gì vớinhau). Cái chết êm đềm này là số phận dành cho đa số các sao ( trong đó cóMặt trời của chúng ta): những ngôi sao có khối lượng nhỏ hơn 1,4 khối lượng Mặt trời thống trị dân số của các thiên hà. Cần phải có một kính thiên văn lớn mới xác định vị trícác sao sao lùn trắng bởi vì chúng sáng một cáchyếu ớt. S irius, ngôi sao sáng nhất trong bầu trời đêm, có sao lùn trắng làm bạn. Sao lùn trắng sẽ mất hàng tỉ năm sức mới hết nhiệt. Lúc cuối, khi trở thành "sao lùn đen "vô hình, nó sẽnhập vô hàng ngũ củavô số xác sao chết đang rải rác trong sự bao la của các thiên hà. Về phần tinh vân hành tinh, nó sẽ phân tán trong không gian vừa gieo trong đónhững nguyên tố nặng đã được chế tạo trong nhữnglò luyện củasao.
Chuyệngì sẽ xảy ra với ngôi sao có khối lượng lớn hơn 1,4 khối lượng Mặt trời? Nó có thể có một cơn hấp hối dữ dội hơn rất nhiều. Nhưng còn nữa, số phận cuối cùng sẽ đi hướng khác nhautùy theo ngôi sao nặng hơn hay ít hơnnăm lần Mặt trời.
Trước hết chúng ta hãyquan tâm tới sự kết thúc của một ngôi sao có khối lượng nằm giữa 1,4 và 5 lầnkhối lượng Mặt trời. Khối lượng gia tăng của ngôi sao làm nó nén lại mạnh hơn. Sự sụp đổ xảy ra quá nhanh (chỉ một phân sốcủa giây) đến nỗi các electrons di chuyển nhanh hơn, không có thời gian để tổ chức sự kháng cự chống lại trọng lực. Giới hạn6000 km củabán kính sao lùn đượcvượt qua một cách nhanh chóng. Bán kính của lõi sao thu lại chỉ còn 10 km. Mật độ cuối cùng cực kỳ lớn, có thể đạt tới 1 tỷ tấn cho 1cm 3. Như thểbạn nén khối lượng của 100 cáitháp Eiffel vào một thể tích bằng đầu bút bi của bạn. Các nhân cũng không thể kháng cự lại sự nén này và bị bểthành proton và neutron. Các electron bị ép gầnquá sứcvào các proton đến nỗi chúng buộc phải kết hợp với proton để sanh ra neutron và neutrino. Các neutrino mà chúng ta đã gặp trong những khoảnh khắc đầu tiên của vũ trụ, trung thành với tiếng tăm của chúng. Không tương tác với vật chất, chúnglập tức phân tán. Tâm của sao trở thành một "nhân" neutron khổng lồ. Chúngchỉ sống được 15 phút ở trạng thái tự do, mất đi ý định chết khi bị cầm tù. Bây giờ, chính chúng chống lại trọng lực và làm cho sao neutron không sụp đổ nữa. Như trong trường hợp các electron, có nguyên lý loại trừ cho các neutron và chúng không thể ép sát với nhau quá.
Vào thời kỳcuối của sựsụp đổ tâm sao, một vụ nổ chớp nhoáng xảy ra. Những lớp giống vỏcủ hành giàu nguyên tố nặng bị bắn tung vào không gian với tốc độ hàng ngàn km/giây. Sự nổ đạt một độ sáng bằng 100 triệu Mặt trời. Một điểm sáng xuất hiện trong bầu trời, sáng gần như nguyên cả một thiên hà. Đó là sao siêu mới. Sự ngưng sụp đổ đột ngột của tâm sao gây bởi sự khángcự các neutron là nguồn gốc của sựnổ khủng khiếp này. Một sóng xung kích được tạo ra, truyền tới bề mặt và đẩy những lớp bên trêncủa ngôi sao, gây ra sự nổ.
Trong các thiên hà, những cái chết nổ như vậy xảy ra khoảng mỗithế kỷ một lần. Con người từ khi bắt đầu ghi lại những quan sát của mình đã thấy khoảng một chục cái chết như vậy trong giải Ngân Hà . Năm 1571, chàng tuổi trẻ Tycho Brahe đã quan sát được một "ngôi sao mới" trong chòm sao Cassiopée. Sự khám phá đã gieo vào trí ócông sự nghi ngờ về những bầu trờibất biến của Aristote. Cái còn lại của vụ nổ supernova hiện nay mang tên ông. Ngày 23 tháng 2 năm 1987, một supernova trong một trong số các thiên hà sao lùn vệ tinh của Ngân Hà , đám mây Magellan lớn ở cách khoảng 150 000 năm ánh sáng, đã làm lung lay thếgiới thiên văn học. Tất cả các phương tiện quan sát hiện đại (kính thiên văn lớn đặt trên mặt đất, vệ tinh không gian và những dụng cụ khác mà Tycho Brahe không thể tưởng tượng nổi) đã đóng góp với nhau để nghiên cứu hiện tượng lạ lùng này. Ngay cả những neutrino thoát ra từ tâm sụp đổ của ngôi sao chết cũng đã được thunhận bởi các máy dò đặt sâu tới vài cây số dưới đất, trong cácmỏ vàng đã được dùng vào việc khác.
Nhưng một trong số những supernova nổi tiếng nhất trong các annales (quyển sách ghi những sự kiện từ năm này qua năm khác) thiên văn học, chắc chắn là sao có nguồn gốc là phần còn lại của một vụ nổ sao mà ngày nay người ta gọi là "Tinh vân Cua ". Ngôi sao khách này (đây là một tên rất đẹp mà các nhà thiên văn học Trung quốc đãđặt) xuất hiện buổi sáng ngày4 tháng 7 năm 1054. Nó sáng như sao Vénus, ngay cả ban ngày cũng thấy được và kéo dài hàng mấy tuần lễ. Tuy nhiên, trong những ghi chép Thiên văn học ở phương Tây vào thời kỳ đó, người ta không tìm thấy ghi chúvề nó. Các tác giả chắc tin vào vũ trụ bất biến, khôngđổi của Aristote hơn là tin vào chính mắt họ.
Đã khá lâu rồi "sao chủ "đã không còn đượcnhìn thấy bằng mắt trần nữa. Với kính thiên văn, người ta có thể phân biệt được phần còn lại của vụ nổ sao, sáng một cách yếu ớt và có dạng giống như một con cua nên từ đó nó cótên như vậy. Nhưng cái làm cho nó nổi tiếng là , người ta khám phá ramột ngôi sao neutron bên trong lòng nóvào năm 1967. Sao này đã được các nhà thiên văn Mỹ Walter Baade và Fritz Zwicky tưởng tượng ra từ năm 1934, thực sự là kết quả từ cái chết của một ngôi sao. Nó được thể hiện dưới dạng một ngôi sao sáng rồi tắt 30 lần trong 1 giây, do đó nó còn có tên là pulsar. Hành vi kỳ lạ này trước hết là do sao neutron không phát xạ hết toàn bộ bề mặt của nó. Ánh sáng (mà nhiều nhất là loại radio, vô tuyến) ló ra thành hai chùm tia giống như chùm tia sáng phát ra từ đèn pha. Hơn nữa, sao neutron tự quay quanh nó rất nhanh, do đó tạo cảm giác là nó sáng rồi tắt mỗi khi chùm tia sáng của nó quét đến trái đất. Pulsar sắp đóng vai trò ngọn đèn pha của bầu trời trong nhiều triệu năm. Nguồn năng lượng dự trữ của nó được tích trữ trong quá trình sụp đổ rồi sẽ cạn dần. Nó quay càng ngày càng chậm và cuối cùng sẽ không còn bức xạ nữa. Được bao bọc bởi sự im lặng của những cái chết, xác sao chết này không thểđược thấy cũng nhưnghe nữa. Trong giải Ngân Hà, cứ một ngàn ngôi sao là có một ngôi sao kết thúc cuộc đời mình thành một pulsar.
Cuối cùng, chúng ta nói đến cái chết của ngôi sao quyết định nhất . Đây là số phận củasao có khối lượng lớn hơn khoảng 5 lần khối lượng của Mặt trời phải chịu. Khối lượng rất lớn gâysự sụp đổ vô cùng dữ dội. Lần này, không chỉ những electron mà ngay cả những neutron cũng bị bất ngờ. Chúng không có thời gian để tổ chức kháng cự lại trọng lực. Trọng lực này không thể dừng lại được nữa. Nó ép vật chất ở tâm ngôi sao vào một thể tích nhỏ đến mức trọng trường sinh tratrở nên vô cùnglớn. Tâm của sao trở thành một lỗ đen .
Cũng như trong trường hợp trước, sự sụp đổ dữ dội tạo ra vụ nổ khổng lồ làm văng ra các lớp trên cùng của sao vào không gian: sự ra đời của một lỗ đen cũng được chào mừng bằng sự bùng nổ supernova. Lần này ,ngôi sao chết cũng chẳng cònđể lại xác chết có thể nhìn thấy được. Từ nay về sau, như chúng ta đã biết, nó chỉ thể hiện sự có mặt của nó bằng những hiệu ứng trọng lực mà nó tác dụng lên các vất chất đi qua gần nó. Nó làm chậm thời gian. Nó biến các nhà vũ trụ quá táo bạo thành những cộngmì sợi spaghetti Ývà sẽ nghiền nát họ. Đối với người quan sát trên trái đất, lỗ đen rất khó dò ra. Trừ khi, như chúng ta đã biết, nếu nó cặp đôi với một ngôi sao khác đang còn sống. Lỗ đen lúc đósẽ cuốn hútkhí quyển của ngôi sao thấy được về phía nó. Các nguyên tử khí trong khí quyển này phát ra tia X trong lúcrơi vào lỗ đen và sẽ tiết lộ sự hiện diện của nó. Người ta nghĩ rằng có tồn tại một lỗ đen theo hướng chòm sao Cygne, chỗ có một nguồn tia X rất sáng. Trong giải Ngân Hà, các lỗ đen có các sao sao lùn và pulsar ít hơn rất nhiều: các sao nặng là thiểu số trong dân số của thiên hà.
Pulsar là một sao neutron có bán kính 10 km quay quanh chính nó rất nhanh và hoạt động như một đèn pha vũ trụ. Pulsar không phát xạ tất cả bề mặt của nó, mà phát ra hai chùm sáng (Nhất là ánh sáng có tính vô tuyến). Một quan sát viên trên trái đất sẽ nhận tín hiệu vô tuyền từ pulsar mỗi khi chùm tia quét qua trái Đất. Các tín hiệu phát ra liên tục với nhau, cách nhau bởi khoảng thời gian bằng thời gian mà ngôi sao quay một vòng xung quanh chính nó. Pulsar nhanh nhất được phát hiện, gởi cho chúng ta cứ 1,6 phần ngàn giây là một tín hiệu , nghĩa là nó quay 600 vòng một giây quanh chính nó. Một con quay thực sự của bầu trời! Lỗ đen quay theo quỹ đạo quanh sao siêu lớn, lôi cuốn bằng lực hấp dẫn lớp vỏ bao của sao này. Vật chất sao này khi rơi vô lỗ đen và đồng thời tạo thành đĩa khí xung quanh nó,nóng lên và phát ra tia X, tiết lộ cho ta biết sự có mặt của lỗ đen. |








