19-8-1945: Tôi nhớ gì về ngày ấy?
Thuở nhỏ, tôi là một đứa bé yếu ớt, ít hoạt động, chỉ có vài cái thú mê đọc sách, thượng vàng hạ cám từ truyện kiếm hiệp, trinh thám ba xu đến Hồnbướm mơ tiên, Tiêu Sơn tráng sĩ …Do sống nội tâm sớm hơn các bạn cùng tuổi nên những biến động xã hội càng tác động mạnh lên tâm trí trẻ thơ của tôi. 11 tuổi, tôi đã chứng kiến cảnh Nhật đảo chính Pháp, những ông Tây thất thế trước mũi súng của quân đội Nhật, đồng hành với các diễn biến chính trị là nạn đói thảm khốc. Nhà tôi ở gần chợ Hôm (phố Huế, Hà Nội) thỉnh thoảng lại có tiếng người la to “cướp! cướp!”. Mà nào có gì đâu! Có khi chỉ là chiếc bánh đúc ngô, người đói quá, cướp lấy nhét ngay vào miệng, chạy không vững, ngã xoài trên hè phố, miệng vẫn nhai…
Hàng xóm nhà tôi có anh Đắc, là một hướng đạo sinh, mà tôi rất mê mỗi khi anh mặc đồng phục hướng đạo, được đi cắm trại đây đó. Một hôm, anh sang nhà tôi, thuyết phục chị tôi tham gia đoàn khấu thựckhu phố. Có nghĩa là đi quyên góp từ đầu phố đến cuối phố bất cứ cái gì ăn được, mặc được, tập trung lại rồi phân phát cho những người ăn xin sắp chết vì đói, vì lạnh. Tôi rụt rè hỏi: Em muốn vào đoàn Hướng đạo, có được không anh? Anh bảo: Tuổi của em chỉ được sinh hoạt Sói con, Hướng đạo sinh phải từ 12 - 18 tuổi. Hay là anh giới thiệu em vào Sói con? Rồi như động lòng trước sự nài nỉ của tôi, anh đã khai thêm tuổi cho tôi vào đoàn Hướng đạo Thăng Long của anh.
Anh đoàn trưởng Nguyễn Như Kim 23 tuổi, đang là sinh viên năm thứ ba Trường Cao đẳng Khoa học Hà Nội. Anh Kim như một thần tượng với lũ trẻ 12, 13 chúng tôi với hàng chục bằng chuyên môn của hướng đạo sinh, biểu thị bằng những chiếc huy hiệu gài trên ngực áo: bằng bơi lội, truyền tin, nấu ăn, dựng trại…
Khoảng tuần đầu tháng Tám năm đó, anh Đắc trao cho tôi một gói giấy bảo đưa cho chị tôi. Trước khi đưa, anh bắt tôi hứa lời hứa của hướng đạo sinh, không được cho ai biết những gì trong đó. Hoá ra trong gói là tấm vải đỏ và những ngôi sao lụa vàng đã cắt sẵn, nhờ chị tôi máy vì nhà có chiếc máy khâu cũ. Còn nhỏ, nhưng tôi đã biết lá cờ này liên quan đến những câu chuyện rầm rì của các huynh trưởng hướng đạo. Chị tôi thức rất khuya may cờ, ngày lại giấu biệt đâu đó, đến tôi cũng không tìm ra.
Thành phố chộn rộn một không khí khác lạ…
Chỉ bằng vào ghi nhận của trí nhớ non nớt, chắc tôi không xếp sắp chính xác được các sự việc. May mà cách đây 2 năm, dịp Kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Tám, anh Nguyễn Như Kim có một bài báo in trên Tin hoạt động các Hội Khoa học và Kỹ thuật, số 08 - 2005 mà lúc ấy anh là Chủ tịch Hội Thông tin - Tư liệu khoa học và Công nghệ Việt Nam, sau khi nghỉ hưu chức Viện trưởng Viện Thông tin khoa học và Công nghệ. Bài báo giúp tôi nhớ lại cụ thể những ngày này. Thì ra cái cuộc mít tinh tôi được dự ngày 17 tháng Tám lại do các công chức của chính quyền thân Nhật tổ chức. Các diễn giả cách mạng đã cướp diễn đàn, tuyên truyền ủng hộ Việt Minh. Khi khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh!”, “Nước Việt Namcủa người Việt Nam ” được tung ra, khắp Quảng trường Nhà hát Lớn xuất hiện những lá cờ đỏ sao vàng đủ các kích cỡ. Tôi sướng run lên, nhận ra chúng giống hệt những chiếc cờ chị tôi máy đêm nào…
Theo tài liệu của một diễn giả cách mạng, cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành thị uy rầm rộ ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Đoàn tuần hành đi đến đâu hút người theo đến đó, người trên các phố như một dòng sông, nước tràn bờ… Lúc đầu tôi chỉ chạy theo trên hè phố như người đi “xem”, sau hoà luôn vào dòng người lúc nào không hay, và chiều đến nhà thì khản đặc cổ vì hò reo, hô khẩu hiệu…
Hai ngày sau đó, cả Hà Nội như một biển dầu sôi, mọi người công khai bàn bạc, bộc lộ chính kiến, lên án những kẻ thân Nhật. Lúc này may cờ gần như hoạt động công khai. Có thể nói không khí chuẩn bị “nóng” lên nhanh chóng từng ngày.
Sáng sớm hôm 19/8, mấy anh đội trưởng hướng đạo đưa chúng tôi vào cửa bên của Nhà hát Lớn, các anh nói gì đó với người bảo vệ, và chúng tôi được đưa lên thẳng nóc nhà hát. Tôi choáng cả người khi bước lên sân trời trên tầng cao lộng gió. Một sân trời rộng thênh thang, từng quãng nhô lên những khối vuông dựng đứng có lắp kính, lợp mái bằng đá xám. Nhìn xuống quảng trưởng thì ngợp vì độ cao đến chóng mặt, các đoàn người nhỏ xíu từ các ngả dần dần kéo tới. Chúng tôi sung sướng vì các anh đội trưởng cho chơi tự do ở cái sân chơi độc đáo này, chơi trò trốn tìm thì thật tuyệt, rất nhiều góc nấp. Đang chơi, tôi vẫn để ý mấy anh hay nhìn đồng hồ tay, và hay ngó xuống quảng trưởng như chờ đợi một điều gì hệ trọng.
Rồi thì điều ấy đã đến: Một toán người ăn mặc như những công nhân mắc điện, khoác những cuộn thừng lớn, lại khiêng theo một bao tải khá nặng. Chúng tôi ùa đến xem, các anh dốc ngược bao tải, một lá cờ đỏ sao vàng khổng lồ rơi ra, chúng tôi xúm vào phụ tải lá cờ trên sân trời. Mấy anh đội trưởng cùng tốp công nhân loay hoay buộc, tìm cách cố định hai góc lá cờ vào hai điểm trụ bên nóc nhà. Một anh không làm gì, nhưng mắt đăm đắm nhìn xuống quảng trưởng như chờ một hiệu lệnh, rồi anh bỗng quay lại, mặt đỏ bừng không rõ vì phấn khích hay sắc hồng của lá cờ ánh lên mặt anh, anh quát to: “Các anh em, thả cờ xuống!”.
Tất cả chúng tôi khoảng hơn chục người lớn vài chục hướng đạo sinh nhỏ tuổi xúm lại ôm, đẩy “khối cờ” khỏi sân trời. Nhưng khối cờ rơi xuống mặt tiền nhà hát chưa kịp mở hết đã bị một trận gió mạnh thổi tung lên. “Ôi! Đẹp quá!”. Hình như không chỉ tôi reo lên! Chưa bao giờ tôi được chứng kiến một lá buồm khổng lồ hồng rực trong nắng sớm bốc bay lên như vậy! Dù còn trẻ thơ, tôi vẫn linh cảm từ lá cờ này sẽ xuất hiện những ngày mới, không còn cảnh lính Nhật nhục hình những người trộm thóc ngựa, cảnh người chết đói ngay trước cửa mỗi nhà… Chưa hết bàng hoàng thì một khoảng vàng rực đổ ụp xuống đầu tôi, tôi nhớ có đến 3 đứa chúng tôi bị chụp gọn, lúng túng trong ngôi sao vàng, còn các anh khác thì như một đàn cá trong lưới, cũng đang lần tìm lối ra để tóm được mép cờ.
Sau đó hình như các anh buộc hai vật gì nặng lắm vào đầu thừng, dây thừng đầu kia lại buộc vào góc lá cờ ròng dần xuống, mới không bị gió bốc lên lần nữa. Ở trên cao như thế, lại gặp những ngọn gió lớn đầu thu, chúng tôi thành những người may mắn tiếp nhận biểu tượng của Cách mạng trong một bối cảnh kỳ lạ như vậy!
Anh Kim hôm ấy được điều đi làm nhiệm vụ gì khác, hoá ra 60 năm sau mới biết anh cũng làm nhiệm vụ treo cờ ở ngay trước mặt Nhà hát Lớn. Nhiệm vụ đặc biệt của anh Kim chỉ xảy ra sau này, giai đoạn đầu kháng chiến: Giữa tháng 6 - 1948, anh đang làm Phó Giám đốc Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam phụ trách kỹ thuật thì được giao nhiệm vụ sang Thái Lan, liên hệ với Tổ chức Việt kiều yêu nước bên đó, nhờ mua sắm các thiết bị kỹ thuật cho đài phát thanh. Điều đặc biệt của chuyến đi là anh đã một mình mang 18 ki lô vàng xuyên rừng, qua Campuchia, qua Thái Lan, qua mặt bao nhiêu đồn bốt, mật thám Pháp giao lại nguyên vẹn cho tổ chức của ta bên Thái. Còn thành bại của chuyến đưa hàng về bằng đường biển, tôi đã viết kỹ trong bài bút ký Chuyến đi đời người(báo Văn Nghệ ngày 13 - 5 - 1995).
Để tiện cho các nhà làm sử có điều kiện đối chiếu sự việc với người tham dự ngày lịch sử ấy, tôi nói thêm vài thông tin về mấy anh đội trưởng của đoàn Hướng đạo Thăng Long kể trên: Anh Đắc, tức Trần Văn Đắc (bí danh là Phi), nghỉ hưu từ Ban Tuyên huấn Trung ương; anh Mỹ sau lấy tên là Nguyễn Đình Sơn, trước khi nghỉ hưu, từng là Đại tá tư lệnh Binh chủng ra đa bảo vệ Hà Nội trong 12 ngày đêm B52 (1972), đang sống ở Hà Nội, anh Sơn (sau lấy tên là Nguyễn Hoàng Dũng). Anh Sơn nghỉ hưu từ Bộ Tổng tham mưu, hàm thiếu tướng, hiện sống ở TP. Hồ Chí Minh… Tôi không nhớ thật rõ một, hai anh hay cả 3 anh đã có mặt, tham gia việc treo cờ trên nóc Nhà hát Lớn?
Tôi chỉ là một đứa trẻ trong những ngày lịch sử, nhưng nhờ được hoạt động trong Hội Hướng đạo mà những huynh trưởng cấp cao như Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu, và gần gũi hơn là những người như anh Nguyễn Như Kim đã tạo cho tôi cơ hội chứng kiến sự kiện lịch sử trên. Và quan trọng hơn nữa là: Đặt tôi vào cái nền nhân văn, hướng thiện trong những ngày đầu Cách mạng bằng chính nhân cách của các vị ấy!
Nguồn: Sức khoẻ & Đời sống, số Thứ bảy ngày 18 - 8 - 2007.








