Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 11/11/2010 18:27 (GMT+7)

Đa phương tiện trong dạy học vật lý

1. Mô phỏng

Số lượng khổng lồ các phần mềm mô phỏng cho thấy rằng nhiều nhà vật lý thích viết các chương trình của riêng họ và nghĩ rằng chương trình của họ có thể có ích cho người khác. Hệ quả là có nhiều phần mềm mô phỏng về cùng một chủ đề, thể hiện nội dung tương tự. Rất khó khăn và tốn nhiều thời gian để một người sử dụng có thể lựa ra được các phần mềm mô phỏng tuyệt với từ rất nhiều các phần mềm tầm thường. Tình trạng được cải thiện khi các tập hợp các phần mềm mô phỏng được công bố. Chẳng hạn, công việc tiên phong đã được thực hiện bởi F.K. Hwang (3). Nhưng trong nhiều trường hợp công việc này được thực hiện bởi các nhóm nhà vật lý hoặc thậm chí các trường đại học, thường được tài trợ bởi các quỹ quốc gia. Có thể chỉ ra một số ví dụ ở Mỹ: MUPPET/CUPLE/CUPS (4), CPU (5), PhET (6).

Việc sử dụng mô phỏng trong giảng dạy vật lý ở tất cả các cấp được đẩy mạnh đáng kể nhờ sự phát minh ra các ứng dụng kí sinh (applet) Java có dung lượng bé, linh hoạt. Trong lĩnh vực vật lý các chương trình và phần mềm mô phỏng nhỏ này có tên gọi đặc biệt là Physlets”, từ đóng góp ban đầu của W. Christian và cộng sự (7). Chúng ta đã thấy rằng các nhà vật lý thích viết các chương trình của riêng họ, song việc viết chương trình cũng có ý nghĩa giáo dục đối với sinh viên. Trong cả hai trường hợp, trung tâm của sự chú ý phải là vấn đề vật lý còn việc lập trình đồ hoạ hoặc yếu tố tương tác là một gánh nặng không mong muốn. Nhằm giúp những người không phải là chuyên gia xây dựng các phần mềm mô phỏng trong Java, F. Esquembre đã tạo ra một công cụ có bản quyền gọi là Easy Java Simulations (EJS) (8). Với EJS, người dùng có thể tập trung vào việc viết và cải tiến các kỹ thuật toán cho mô hình vật lý mà họ quan tâm chứ không phải dành nhiều thời gian cho kỹ thuật lập trình tiên tiến.

Mỗi phần mềm mô phỏng quá trình vật lý đều dựa trên một mô hình cụ thể. Việc mô hình hoá trong vật lý có truyền thống lâu dài, cả trong nghiên cứu và giáo dục. Nhưng trong khi các mô hình là công cụ hữu ích cho các chuyên gia thì những người mới bắt đầu lại thường khó nhận ra những giới hạn của các mô hình cũng như các ưu điểm của chúng. Bởi vậy phần mềm mô phỏng sẽ hữu ích trong việc giúp sinh viên nhận thức các tính chất của một mô hình. Điều này có thể được thực hiện bằng cách đưa ra các mô hình khác nhau cho cùng một nội dung (9).

2. Thí nghiệm

Các công cụ đa phương tiện trở nên không thể thiếu trong các thí nghiệm ở các phòng thí nghiệm của các trường đại học cũng như phổ thông. Chúng giúp thu nhận dữ liệu từ các sensor, các phần mềm chuyên dụng phân tích dữ liệu và trực quan hoá các kết quả. Bởi vậy, các thí nghiệm mà chỉ một ít năm trước chỉ có thể được tiến hành trong các phòng thí nghiệm được trang bị hiện đại giờ đây đã trở nên phổ biến trong các phòng thí nghiệm đại cương. Có thể chỉ ra một ví dụ trong phần âm học. Chỉ cần một máy vi tính là có thể phân tích tức thời các âm thanh phức tạp như giọng nói con người. Các phần mềm tương ứng thì có sẵn, miễn phí và thân thiện với người dùng, bởi vậy ngay cả các học sinh phổ thông cũng có thể sử dụng được (10).

Trong các phòng thí nghiệm ở trường đại học cũng như trường phổ thông, các thí nghiệm thường chỉ được tiến hành một lần. Nhưng sẽ là hữu ích nếu ta có thể lặp lại thí nghiệm nhằm thay đổi các tham số, xem như một bài tập hoặc để chuẩn bị cho một kỳ thi. Ngoài ra, sinh viên không bao giờ được tiến hành một số thí nghiệm do các thí nghiệm đó quá nguy hiểm, quá phức tạp hoặc quá tốn kém. Interactive Screen Experiment (ISE) là một nỗ lực để khắc phục tình trạng này (11). Các video thí nghiệm được chuẩn bị sẵn với một tập các tham số xác định được rút ra từ cơ sở dữ liệu. Người sử dụng có thể chọn trong số các tham số này và quan sát thí nghiệm tương ứng với kết quả của nó.

Có một giải pháp công phu hơn, được gọi là Các phòng thí nghiệm điều khiển từ xa (Romotely Controlled Labs – RCL). Thí nghiệm được bố trí trong phòng thí nghiệm. Người dùng, ngồi trước máy vi tính được đặt cách xa vị trí bố trí thí nghiệm, có thể điều chỉnh các thông số ban đầu và khởi động thí nghiệm. Video ghi lại thí nghiệm và người dùng có ngay phản hổi bằng cách quan sát video cũng như có được kết quả thí nghiệm được chuyển vào máy vi tính.

Một khía cạnh khác của đa phương tiện là chúng ta có thể tiến hành các thí nghiệm dưới dạng mạng lưới toàn cầu. Có thể chỉ ra một ví dụ: H-J. Jodl và các cộng sự ở Kaiserslautern bố trí một số con lắc dao động tại Aden, Naples, Kaiserslautern, Hermannsburg và Riga (12). Bằng cách so sánh sự phụ thuộc của chu kỳ vào thời gian, có thể rút ra sự phụ thuộc của gia tốc trọng trường vào vị trí địa lý.

Chúng ta có thể thấy rằng hạn chế của ISE và RCL là thiếu vắng hoàn toàn phần thực hành của thí nghiệm.

3. Đánh giá

Như đã nói ở trên, một số lượng lớn tài liệu đa phương tiện có sẵn trên thị trường. Chúng ta không thể hy vọng rằng từng người dùng có đủ thời gian và nỗ lực để tìm kiếm và đánh giá một cách có hiệu quả các tài nguyên này. Bởi vậy một cách tiếp cận kết hợp và có hệ thống là cần thiết. Cần phải thu thập các tài liệu có sẵn, thiếp lập các tiêu chí đánh giá, các tài liệu phải trải qua một sự đánh giá dựa theo các tiêu chí này và các tài liệu có chất lượng cần phải được giới thiệu và phổ biến.

Trong những năm qua, công việc nói trên đã được thực hiện bởi một nỗ lực chung của hai nhóm. Trong khuôn khổ mạng lưới giảng dạy vật lý châu Âu, một nhóm có tên gọi “Đa phương tiện trong dạy và học Vật lý” (MPTL) đã được hình thành khoảng 15 năm trước (1). Trong các hội thảo hàng năm, nhóm này đã khuyến khích việc sản xuất, giới thiệu và phổ biến các sản phẩm đa phương tiện. “Tài nguyên giáo dục đa phương tiện cho học và dạy trực tuyến” (MERLOT) là một consortium và các trường đại học Mỹ và Canađa có mục tiêu nâng cao hiệu quả của việc dạy và học thông qua việc tăng số lượng và chất lượng của các tài liệu học tập trực tuyến đã được phản biện (13).

Các nhóm MPTL và MERLOT đã thiết lập các bộ tiêu chí khác nhau để đánh giá các sản phẩm phần mềm. Các nhóm tiêu chí chung bao gồm: Mục đích, nội dung và phương pháp (MPTL). Chất lượng của nội dung, hiệu quả tiềm tàng cho dạy và học, sự dễ sử dụng (MERLOT). Mỗi nhóm tiêu chí được xác định bởi 4 hoặc 5 câu hỏi được đánh giá từ 1 đến 5 điểm. Do số lượng phần mềm có sẵn rất lớn nên MPTL và MERLOT đã quyết định hợp tác trong một quá trình đánh giá sơ bộ các sản phẩm từ danh mục do nhóm thiết lập để lựa chọn những sản phẩm được đưa vào đánh giá đầy đủ. Kết quả đánh giá sơ bộ của 2 nhóm được kết hợp thành một danh sách chung gồm các sản phẩm được đưa vào đánh giá cuối cùng. Danh sách kết hợp này được phân chia thành các chủ đề. Mỗi sản phẩm được đánh giá bởi một thành viên của mỗi nhóm, cả MPTL và MERLOT. Những sự đánh giá này được tiến hành độc lập nhằm đảm bảo sự khách quan và chính xác của quá trình đánh giá.

Mặc dầu danh mục các tiêu chí khác nhau song có sự phù hợp rất tốt về kết quả của 2 quá trình đánh giá. Nếu có sự không thống nhất thì đó chỉ là những sai khác nhỏ về việc xếp hạng trong trường hợp một sản phẩm được đánh giá là tuyệt vời hoặc “chỉ là” rất tốt. Kết quả của quá trình đánh giá được công bố thường xuyên như là giới thiệu về các sản phẩm phần mềm trong các lĩnh vực khác nhau của vật lý (14). Kết quả đánh giá cho thấy:

- Hầu hết các website có thể được truy cập dễ dàng.

- Nhiều website tập hợp tài liệu từ các nguồn khác.

- 80 – 90% tài liệu về các bài tập chuẩn. Các ví dụ chuẩn này có thể được tìm thấy nhiều lần.

- Hầu hết tài liệu có chất lượng bình thường; một số ít website rất kém song số website thực sự tốt cũng không nhiều.

- Nhiều website dành cho một số vấn đề vật lý cụ thể, ngắn gọn; chỉ một số ít website tập hợp nhiều tài liệu.

- Chỉ khoảng một nửa số chương trình mô phỏng chứa đựng thông tin về kiến thức vật lý cơ bản.

- Đề xuất về cách sử dụng tài liệu trong giảng dạy / học tập là rất hiếm.

- Hầu hết sản phẩm không đề cập đến phương pháp giảng dạy.

4. Kết luận

Chất lượng của các tài liệu đa phương tiện trợ giúp cho việc giảng dạy vật lý đã được cải thiện đáng kể trong những năm qua cả về hình thức và nội dung. Trong nhiều trường hợp, việc kiểm nghiệm thực tế ở phạm vi rộng đã được tiến hành trước khi phát hành các chương trình mới. Việc đánh giá và giới thiệu bởi các nhóm độc lập làm cho việc tìm kiếm và lựa chọn một sản phẩm mong muốn trở nên thuận tiện. Điểm yếu đang tồn tại đó là mối liên hệ với các vấn đề sư phạm và phương pháp. Cần có thêm nhiều nỗ lực trong việc khảo sát tương tác của sinh viên với các công cụ đa phương tiện cụ thể, đặc biệt là những yếu tố giúp cho sinh viên hiểu bài tốt hơn.

Tài liệu tham khảo

1. http://www.mpt.eu/

2. http://web.phys.ksu.edu/ICPE/

3. http://www.phys.hawaii.edu/~teb/java/ntnujava/index.html

4. http://www.physisc.umd.edu/ripe/muppet/muppet.html

5. http://cpuproject.sdsu.edu/default.html

6. http://phet.colorado.edu/index.php ;

7. http://webphysics.davidson.edu/Applets.html

8. http://www.um.es/fem/Ejs/

9. http://www.phydid.de

10. http://www.visualizationsoftware.com/gram.htmt

11. http://www.berlinnairobi.org/ises/ises.pdf

12. http://rel.physik.uni-kl-de/

13. http://www.merlot.org/merlot/index.htmt

14. http://www.mptl.eu/reports.htm

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

An Giang: Toạ đàm thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Ngày 17-18/3, tại phường Long Xuyên, đã diễn ra tọa đàm và tập huấn “Thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật” với sự tham gia của Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam (VUSTA), Liên hiệp Hội tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp Hội tỉnh An Giang, Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang cùng đông đảo cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, phụ huynh…
Đắk Lắk: Chủ tịch Liên hiệp hội trúng cử đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2026 - 2031
Ngày 17/3, Ủy ban bầu cử tỉnh đã tổ chức hội nghị công bố kết quả bầu cử và danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tại hội nghị, danh sách 84 đại biểu HĐND tỉnh đã được công bố, trong đó có TS. Phan Xuân Lĩnh - Chủ tịch Liên hiệp hội tỉnh.
Nhiều ý kiến của cử tri trí thức gửi tới Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI
Nhiều ý kiến tâm huyết của đội ngũ trí thức, nhà khoa học đã tập trung vào các vấn đề quan trọng của đất nước như phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, hoàn thiện thể chế, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Trí tuệ nhân tạo, quyền năng và lương tri
Trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là một công cụ đứng yên trong phòng máy. Nó đã bước ra ngoài đời sống, bước vào kinh tế, chính trị và cả vùng mờ của đạo đức. Khi những người tạo ra nó bắt đầu lên tiếng cảnh báo, câu hỏi không còn là AI sẽ làm được gì, mà là con người đã chuẩn bị đến đâu để đối diện với chính quyền năng do mình tạo ra.
Phú Thọ: Triển khai Hội thi, Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng năm 2026
Ngày 12/3, đoàn công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tổ chức, triển khai Hội thi Sáng tạo kỹ thuật và Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Phú Thọ năm 2026 do Tổng Thư ký Liên hiệp Hội tỉnh Nguyễn Thị Loan làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với một số doanh nghiệp, trường học trên địa bàn xã Bình Nguyên và phường Vĩnh Phúc.
Đoàn thanh niên VUSTA ra quân trồng cây xanh tại Đền thờ Chu Văn An, lan tỏa thông điệp sống xanh
Hưởng ứng Tháng Thanh niên năm 2026, thiết thực chào mừng 95 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2026) và 43 năm Ngày thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (26/3/1983 - 26/3/2026), ngày 14/3/2026, Đoàn Thanh niên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức hoạt động ra quân trồng cây xanh tại Khu di tích lịch sử quốc gia Đền thờ Chu Văn An.
Những nhà khoa học ứng cử đại biểu Quốc hội
Nhiều giáo sư, phó giáo sư, chuyên gia công nghệ và lãnh đạo viện nghiên cứu tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 16 với kỳ vọng đưa tri thức khoa học vào quá trình làm luật và hoạch định chính sách quốc gia.