Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 25/04/2008 15:52 (GMT+7)

Văn hoá Đông Sơn tại Indonesia

Đất nước nghìn hòn đảo

Indonesia là một quần đảo nằm ở Đông Nam lục địa châu Á, khoảng 17.000 hòn đảo lớn, nhỏ - tạo thành một chuỗi đảo với tổng diện tích 1.922.570 km 2so với 331.000 km 2của Việt Nam và bờ biển tới 55.000 km so với 2.200 km của nước Việt Nam.

Phần nào vì “đa đảo” mà Indonesia cũng là một nước đa sắc tộc và đa ngôn ngữ. Trong số 209 triệu người có hai nhóm lớn nhất: người Java chiếm 45%, sau đó là người Suda chiếm 14%. Còn lại thuộc về vô vàn các nhóm tộc người khác như: Batak, Hayak, Toratja, Bugi... Chỉ riêng đảo Kalimantancũng có tới 200 nhóm.

Hiện nay chưa thấy có tài liệu nào cho biết về chữ viết cổ của các nhóm cư dân trên đảo. Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán, vào nhữngnăm đầu Công nguyên, các thương gia và các tu sĩ Ấn Độ đã mang theo Ấn Độ giáo và Phật giáo với chữ viết Sanscrit và tiếng Pali đến cho dân bản địa. Ngoài ngôn ngữ chung của họ là Malay – Polynesia,đúng hơn là Bahana, còn có 583 ngôn ngữ khác nữa.

Quốc đảo này có một điểm hơi khác với những cộng đồng ở Đông Nam Á lục địa – nơi mà vương quốc đã xuất hiện vào sơ kỳ thời đại sắt. Theo một bản văn khắc trên mái đá ở Java cho biết, mãi cho tới thế kỷ V, cấu trúc quốc gia đầu tiên mới xuất hiện với tên gọi Taruma của vua Purnavarman. Đến thế kỷ thứ VII, lãnh thổ Turama đã trải rộng ra hàng nghìn hòn đảo và tiếp tục hưng thịnh. Vào khoảng 300 năm tr. CN đồ đồng được du nhập từ Việt Nam , Thái Lan và Trung Hoa, hoà cùng với đồ đồng bản địa tạo nên một nền văn hoá đồ đồng đa dạng. Tuy không giỏi về đúc đồng, người indonesia lại khá về lĩnh vực đóng thuyền để đi biển. Có thể nói vào những thế kỷ trước CN, thuyền bè của họ đã qua lại từ Madagascarđến Hawaii . Điều này giải thích phần lớn dân Madagascarcó nguồn gốc Malay - Polynesia, đồ đồng Đông Sơn có mặt ở cả Malaysia và Thái Lan. Thêm một chút chuyện bên lề, tuyệt nhiên không có một món Đông Sơn nào được tìm thấy tại Philippines .

Văn hoá Đông Sơn tại Indonesia

Ngoài thời gian ngắn ngủi tìm hiểu đất nước, con người chúng tôi đã dành phần lớn thời gian để tìm hiểu về một Indonesia trầm tĩnhhơn của một thời đã qua:

Viện Khảo cổ Quốc gia Indonesia

Giáo sư Tiến sĩ R.P. Soejono, chuyên gia về đồ đồng. Ông đã từng đào được hai trống đồng sau đó được mang tên của ông. Giáo sư và bà phụ tá cho chúng tôi biết, Indonesia đã tìm được 80 trống đồng bao gồm cả mảnh vỡ, vụn trong đó có 78 trống loại Heger I (1), chỉ có 2 trống loại IV. Theo họ, các trống loại Heger I hầu hết nhập cảng từ Bắc Việt Nam và một số từ Nam Trung Hoa.

Trống Indonesia có hình dáng hoàn toàn khác. Ví dụ, trống Pejang tìm được tại Bali có chiều cao gần 186,5 cm và đường kính 160 cm, có niên đại vào những thế kỷ đầu CN, hoa văn phảng phất một vài nét Đông Sơn. Cũng đã có rất nhiều huyền thoại về chiếc trống khổng lồ này, thậm chí nó còn được xem là biểu tượng của trục bánh xe để chở mặt trăng (trống còn gọi là Pejang Moon). Hàng trăm chiếc trống bản địa khác đã được sản xuất liên tục cho đến những thế kỷ gần đây thường có chiều cao 45 cm và đường kính 20 cm.

Viện Bảo tàng Quốc gia Jarkata (Pusta)

Do người Hoà Lan xây năm 1868, Pusta là nơi trưng bày nhiều đồ gốm Việt Nam quý giá hơn cả các viện bảo tàng Hà Nội, Sài Gòn,Guimet Paris hay Princessechop, Lewarden.... Chúng tôi được bà đã tiếp Dedah trong phòng làm việc kiêm luôn nhà kho, chứa ngổn ngang các cổ vật quý gia trong đó có đầy rẫy trống Đông Sơn.

Cảm động hơn nữa, bà đã cho phép chúng tôi chụp ảnh rất nhiều hiện vật. Theo bà cho biết, cho đến nay, chưa ai tìm thấy bất kỳ một vũ khí Đông Sơn nào ở Indonesia ; chỉ có vũ khí đồ đồng bản địa có hoa văn chịu ảnh hưởng Đông Sơn.

Những vấn đề chưa được giải đáp ổn thoả

Sau nhiều tìm tòi và thảo luận cùng các chuyên gia tại Indonesia , chúng tôi có nhận xét và thắc mắc như sau:

1. Kích thước hoa văn trên những chiếc trống đồng

Mặc dù đã đọc nhiều sách nói về trống đồng ở các viện bảo tàng trên thế giới cũng như các bộ sưu tập tư nhân, thế mà chúng tôi đã sửng sốt trước bốn chiếc trống khổng lồ của viện (ba chiếc có tên Sangeang, một chiếc tên Kur). Dáng trống rất đẹp, hoa văn rất rõ ràng. So về thể tích, trống ở Indonesia to hơn những trống lớn nhất của Việt Nam như đang được trưng bày ở Viện Bảo tàng Huế, Viện Bảo tàng lịch sử Hà Nội...

Đáng tiếc là thân trống đồng ở Indonesia hầu hết không còn được lành lặn tuy nhiên hoa văn trên mặt và thân cũng như phần chân hãycòn rất rõ nét. Mặc dù thiếu cảnh sinh hoạt như các trống quan trọng và đẹp nhất của ta nhưng trên trống của họ cũng thấy hình ảnh nhà sàn và người trong nhà sàn rất rõ. Tang trống và chân cũng cónhiều cảnh hiện thực với hoa văn người, ngựa, voi và công.

Riêng về chiếc trống Kur, có đúc nổi tám chữ Hán phía ngoài mặt trống nơi chân của một con cóc đã bị gẫy văng mất. Giáo sư đại học Harvard người Trung Hoa tên L.S. Yang đã dịch là: “Tam thế” và “Thế tam”, những từ quen thuộc và đặc trưng của Phật giáo.

Vì trống Kur và các trống quan trọng nhất ở Indonesiarất giống các trống lớn loại I của Việt Nam nên các học giả của cả hai nước đều thẩm định rằng chúng đã được đúc vào khoảng thế kỷ II hoặc III tr. CN. Tuy nhiên, ý kiến này đã bị các học giả phương Tây bác bỏ vì theo họ, Phật giáo được truyền sang Indonesiavào những năm đầu CN và đến những thế kỷ II mới du nhập vào Việt Nam (2).

Lại theo Kemper và một số học giả Tây phương thì trống đồng Kur chỉ được đúc tại Bắc Việt Nam vào thế kỷ III mà thôi. Giả thuyết này đã được ủng hộ thêm khi gần đây, các nhà khảo cổ đã tìm được một mảnh khuôn đúc trống đồng tại Luy Lâu.

2. Tại sao những trống đồng Việt Namtìm thấy được ở Indonesialại to đẹp hơn trống đồng của giới quý tộc Việt Nam ?

Thoáng nghĩ vào thời kỳ này, người Tàu đã đặt nền móng đô hộ nước ta được 200 - 300 năm rồi; thế còn đúc trống làm gì khi chế độLạc Hầu, Lạc Tướng có thể đã không còn nữa? Hơn nữa, Mã Viện với mưu đồ đồng hoá người Việt, đã hạ lệnh tịch thu khí giới và trống đồng để đúc thành ngựa đem về Lạc Dương dâng vua Hán. Thế sao ta lạicó thể có những trống đồng đẹp đến thế?

Keith Taylor cho rằng người Tàu xâm lược không những thất bại trong việc Hán hoá người mình, mà ngược lại, chính họ đã Việt hoá. Việc đúc trống của ta vẫn tồn tại, bằng chứng là các trống Mường loại Heger II vẫn được sản xuất mãi cho đến thế kỷ X. Thêm nữa, ta đã tìm ra những mảnh giáp trụ đặc trưng của Lạc Việt có hoa văn tiêu biểu văn hoá Hán. Riêng điều này đồng nghĩa với suy nghĩ ta vẫn còn quân đội. Các Lạc Hầu, Lạc tướng vẫn trực tiếp cai trị dân chúng và nhu cầu trống đồng vẫn tồn tại ngay cả khi bị Tàu đô hộ.

Đặc biệt nhất cũng vào thời này, ở xứ Giao Châu ta có Thái thú Sĩ Nhiếp (137 - 226) khôn ngoan cai trị. Ông được lòng dân đến nỗi khi ông mất đi dân chúng lập đền thờ và tôn gọi là Sĩ Vương. Với kinh tế mở mang và giao thương phát triển, trống đồng Việt Nam thêm cơ hội lên thuyền ra khơi.

Một giải thích khác là từ khi Mã Viện sang xâm lược, một số thủ lĩnh người Việt đã đem gia quyến, thân thuộc và không quên mang theo cả báu vật được giữ gìn từ nhiều thế hệ xuôi xuống phía Nam, ra tận các hải đảo lánh nạn. Họ đã được các “chúa đảo” - những người anh em tộc thuộc – che chở trong cơn hoạn nạn. Còn về những chữ Hán trên trống, có thể vì các thủ lĩnh người Việt đã cúng dâng báu vật cho các chùa chiền - nên nó đã được các nhà sư in dấu ấn Phật giáo lên đó.

Trước mùa hè 2001, Việt Nam chưa tìm ra được một trống lớn hơn trống Hữu Chung. Đột nhiên chỉ vài tháng sau, khi làm quốc lộ Bắc Nam, còn gọi là đường Trường Sơn, người ta lần lượt tìm thấy những trống lớn hơn 100 cm. Cho đến nay, chúng tôi đã thấy tận mắt ít nhất là 10 chiếc trống kích thước như thế. Viện bảo tàng lịch sử Hà Nội hiện đang trưng bày 1 chiếc trống có đường kính 117 cm trong khi Viện Bảo tàng Huế thu nhập được một mặt trống đường kính 130 cm. Nhà hàng sang trọng vào bậc nhất Hà Nội lấy tên Trống Đồng cũng trưng bày 12 trống, trong đó có 2 trống với đường kính 105 cm. Trong tương lai, số trống khổng lồ phát hiện ở Bắc Việt Nam sẽ vượt xa số trống tìm thấy ở Indonesia.

Hoa văn trên trống mới tìm được cũng rất giống những trống khổng lồ của Indonesia . Đáng chú ý hơn là 3 chiếc trống đồng có hoa văn ở chân trống mà chúng tôi được xem tại Đắc Lắc vừa qua. Người ta nói với chúng tôi rằng 3 chiếc trống này được tìm thấy ở thượng nguồn sông Dra Rang mùa hè năm 2007. Đây là một đặc điểm của những trống khổng lồ có ở Indonesiavì trên 100 năm nay ta mới phát giác ra loại này tại Việt Nam .

Thêm một khám phá lý thú khác là trên một vài mặt trống tại Indonếia có hình người ngồi bó gối, đội mũ lông cao, tay ôm đầu - điểm tương tự ở rất nhiều trống tìm thấy sau này và chưa hề tìm thấy tại Nam Trung Hoa. Sau cùng, hoa văn ngựa trên trống Sangeang minh chứng hùng hồn việc trống chỉ được làm sau khi người Hán đặt chân lên đất Giao Chỉ. Hình người trên trống mặc áo dài phủ chân biểu hiện một thế hệ cách xa thời đóng khố.

3. Nguồn gốc 70 chiếc trống đồng Đông Sơn có kích thước nhỏ đã từ đâu đến?

- Do việc buôn bán đã được tiến hành từ nhiều thế kỷ TCN.

- Do việc phân phát quyền uy - thuyết này do một vài học giả phương Tây đưa ra. Vào thời kỳ đồ đồng, có thể Bắc Việt Nam là một trung tâm quyền lực, nhiều uy tín và đông dân nhất trong khu vực. Về dân số thì đông gần gấp hai lần tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây nhập lại. Thủ lĩnh của các quốc gia láng giềng như: Mã Lai, Indonesia, Thái Lan... Tới thăm viếng, giao hảo, khi về đều được tặng trống.

- Một giả thuyết khác của các học giả Trung Hoa cho rằng có thể một số thợ chuyên môn làm trống từ Vân Namxuôi sông Hồng, rồi lên thuyền vượt biển tới Indonesia đúc trống cho các thủ lĩnh địa phương. Thuyết này khó đứng vững vì các nhóm thợ chuyên môn chỉ phục vụ cho các lãnh chúa hay giới quý tộc. Hơn nữa, nếu muốn đúc trống cần nhiều bộ phận chuyên biệt, thợ rừng đốn củi, thợ gốm làm khuôn, lại còn thợ mỏ và thợ nấu đồng. Đi tới một nơi xa lạ, làm sao biết được quặng mỏ chỗ nào mà tìm? Hơn nữa, nếu là thợ Vân Nam thì sao họ lại không đúc trống mang phong cách của mình mà lại phải mượn phong cách Đông Sơn vốn xa lạ với họ. Vả lại, ở Java không có thiếc là kim loại chính để pha với đồng.

4. Đặc thù hồi văn trên các đồ đồng

Trong số các hoa văn trên đồ đông Đông Sơn có loại hoa văn hình học dùng để trang trí những tư duy toán học chưa được giải mã. Hoa văn này được gọi là hồi văn hay hoa văn hình chữ Công. Các học giả phương Tây gọi là Greek - Key. Dựa vào hoa văn này, Heine Geldern cho rằng văn hoá Đông Sơn có nguồn gốc ngoại lai mặc dầu ông là người đề xướng và đặt tên cho nền văn hoá của thời đại đồ đồng và sắt sớm ở Bắc Việt Nam là văn hoá Đông Sơn. Vào năm 1932, ông cho Đông Sơn có liên hệ đến nền văn minh cổ Hallstatt ở Trung Âu. Từ châu Âu, nền văn minh này ảnh hưởng đến thời cổ điển của Hy Lạp, truyền sang Trung Hoa trong thời nhà Chuvà ảnh hưởng đến nhóm Bách Việt vào thế kỷ thứ III - IV tr. Cn, thời mà ông cho là cực thịnh của văn hoá Đông Sơn (3).

Quả thật, thoạt nhìn ta thấy hồi văn của Hy Lạp rất giống hồi văn Đông Sơn nhưng khi nhìn kỹ lại, hoa văn Đông Sơn là những biến thể của hoa văn vòng tròn tiếp tuyến hay dấu hỏi - loại hoa văn căn bản mà ta thường thấy trên hàng trăm, nghìn món đồ đồng Đông Sơn. Các hoa văn thời Đông Sơn không phải là sự đột biến ngẫu nhiên mà là một quá trình phát triển trải hang nghìn năm từ thời Phùng Nguyên (2000 năm tr. CN) qua Đồng Đậu, rồi Gò Mun. Từng bước đi của các hoa văn này được thể hiện rõ nhất trên đồ gốm.

Và cũng dựa vào hoa văn này, ta có thể vững tâm kết đoán những chiếc bình đồng khám phá ở Kerince và Madura của Indonesianói trên đều xuất xứ từ Bắc Việt Nam .

5. Phải chăng người Việt Nam cổ Đông Sơn và người Dayak có mối quan hệ tộc thuộc?

Câu hỏi này đã được các học giả Pháp đưa ra từ non thế kỷ trước và vẫn tiếp tục là một thắc mắc.

Dayak là một bộ tộc riêng biệt ở Borneo, nơi có rất nhiều rừng rậm. Người Dayal sống sâu trong nội địa, trong khi người Mã Lai theo Hồi giáo thích sống vùng ven biển hơn. Trên phía Bắc đảo Borneo có một quốc gia nhỏ bé nhưng giàu có nhất Đông Nam Á là Brunei . Một phần phía Tây Bắc của đảo thuộc về Malaysia . Phần chính còn lại của đảo thuộc Indonesiagọi là Kalimantan. Ngày nay người Dayak còn khoảng hơn 2 triệu người. Người Dayak và người Việt cổ Đông Sơn có khá nhiều điểm giống nhau:

- Nơi cư trú là các vùng ven sông nước, làm ruộng nước. Phương tiện di chuyển chính là thuyền, không hề biết sử dụng bánh xe.

- Người Dayak cư trú trong các nhà sàn mái cong võng rất giống với hình nhà sàn được khắc hoạ trên các trống đồng Đông Sơn và các mái đình cổ ở miền Bắc Việt Nam (4).

- Phụ nữ có quyền ngang hàng hoặc hơn phái nam (tục ở rể).

- Khi có người chết, họ dùng thuyền làm đám tang đưa linh hồn người quá cố về bên kia thế giới. Các học giả phương Tây dự vào phong tục này để giải thích các hình thuyền trên tang trống Đông Sơn.

- Cho đến thế kỷ XX, người ta vẫn còn thấy rải rác tục săn đầu người ở Indonesia (5). Và giống như người Việt cổ Đông Sơn, người Dayak cũng chôn theo người chết nhiều đồ tuỳ táng bằng đồng với những hoa văn giống nhau đến ngạc nhiên.

- Gọi quốc gia hay vùng đất của họ là “nước tôi” thì chỉ có Việt Nam và người Dayak là hai dân tộc duy nhất trên thế giới dùng từ này.

Cũng cò khá nhiều công việc cần phải làm nữa để tìm cho ra câu trả lời ngọn ngành về mối quan hệ tộc thuộc giữa người Việt cổ Đông Sơn và người Dayak.

Thay cho lời kết

Thời đại đồ đồng ở Việt Nam và văn minh Đông Sơn của hơn 2000 năm trước đã làm cho mỗi người chúng ta rất đỗi tự hào. Nhưng, trên những nẻo đường mà chúng tôi được bước chân qua từ Nam Trung Hoa cho đến Indonesia trong thời gian gần đây, chúng tôi đã mở được tầm nhìn rộng hơn về vai trò của văn hoá Đông Sơn tại cả Đông Nam Á.

Rõ ràng nhất, tất cả các câu trả lời, giả thuyết nêu trên đều chưa làm ta thật hài lòng. Cuộc “gặp gỡ” của chúng tôi với các trống đồng ở Indonesia năm 2001 quá ngắn ngủi; nhưng chúng tôi hy vọng trong một tương lai thật gần, sẽ có dịp tỏ bày thêm - như một cách biểu hiện tình yêu với những chiếc trống đồng Đông Sơn vừa oai vệ vừa căng đầy sức quyến rũ.

Chúng tôi cũng muốn dùng các tài liệu khoa Cổ học để truy tìm nguồn gốc người Việt. Đã từ lâu, ta vẫn nhầm tưởng những trống quan trọng nhất và đẹp nhất như Hữu Chung, Ngọc Lũ, chỉ dành cho vua chúa sử dụng. Nay, ta biết ra Indonesia còn có trống lớn hơn. Vào thời đại đó, Indonesia không có vua, Nam Trung Hoa cũng không có vua, nên niềm tin ta đã có vua lại càng giảm sút. Chúng ta còn phải trông cậy vào lưỡi cuốc của các nhà khảo cổ trong tương lai, còn phải tìm hiểu và nghiên cứu thêm nữa, may ra vấn đề nguồn cội và những thắc mắc tiêu biểu nêu trên mới được sáng tỏ.

Chú thích:

1. Trống loại Heger I, niên đại sớm (già) nhất, đến loại Heger II, rồi loại Heger III, và loại Heger IV là gần (trẻ) nhất.

2. Nguyễn Bá Lăng,Kiến trúc Phật giáo Việt Nam , tập I - Sài Gòn 1972. Xem thêm: Nguyễn Lang,Việt Nam Phật giáo sử luận.

3. Heine Geldern,Văn hoá Đông Sơn và cuộc thiên di của người Nam Đảo.

4. Nguyễn Văn Huyên,Góp phần nghiên cứu Văn hoá việt Nam, Nxb KHXH, Tập II - Hà Nội 1995 - 1996.

5. Khi đề cập đến vấn đề này với các chuyên gia ở Jakarta, họ muốn lướt qua thật nhanh. Đặc biệt người Dayak nổi tiếng rất hung dữ. Cách đây không lâu, họ đã chặt đầu rất nhiều dân cư ở các đảo khác sang Kalimantan sinh sống, chính quyền trung ương không can thiệp kịp. Theo các tài liệu Dân tộc học thì người Việt cổ cũng có tục này. Hoa văn trên các trống quan trọng và trên chiếc thạp của Nam Việt Vương vẫn có cảnh chiến binh Đông Sơn kề dao sát cổ tù binh bị trói. Một số minh hoạ khác có cảnh chiến sĩ tay cầm khí giới, tay cầm đầu lâu. Vào năm 1996, người ta tìm thấy ở Thanh Hoá một dao găm cán tượng người, lưng đeo đầu lâu.

Nguồn: Xưa & Nay, số 303, 3 - 2008, tr 13

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.