Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 27/03/2012 19:05 (GMT+7)

Ứng dụng TB KH-CN xây dựng mô hình nuôi cá hồi vân thương phẩm tại Kỳ Sơn

I. Đặt vấn đề

Cá  hồi vân ( Oncorhynchus mykiss) được phát hiện tại khu vực Bắc Mỹ cách đây hơn 100 năm và đã nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, được nuôi thành công ở nhiều nước trên thế giới như Chi Lê, Nhật Bản, Úc, Trung Quốc, Thái Lan…

Thành công của việc nhập công nghệ và nuôi thương phẩm cá hồi vân vào Việt Nam cùng với việc phát triển các mô hình nuôi có hiệu quả kinh tế cao sau đó tại một số địa phương miền núi phía Bắc, Tây Nguyên… đã khẳng định được tính thích nghi của đối tượng nuôi này trong điều kiện khí hậu ở nước ta.

Tại Nghệ An, một số nơi ở miền Tây có tiềm năng lớn về nguồn nước lạnh, đặc biệt huyện Kỳ Sơn có các con suối bắt nguồn từ những khu rừng có già ở thượng Lào có độ cao 1.200-1.800m so với mực nước biển, có nhiệt độ nước dao động trong khoảng từ 4-22 0C, phù hợp cho các loài cá nước lạnh (cá hồi vân, cá tầm…) sinh trưởng và phát triển. Việc thử nghiệm nuôi các đối tượng cá nước lạnh sẽ khai thác được nguồn tài nguyên của vùng, góp phần phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập cho đồng bào, an ninh chính trị ổn định.

Dự án “Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH-CN xây dựng mô hình nuôi cá hồi vân thương phẩm tại Kỳ Sơn, Nghệ An”được triển khai nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và hiệu quả kinh tế, xã hội của việc nuôi thương phẩm cá hồi vân tại Kỳ Sơn; đồng thời hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi cá hồi vân phù hợp với điều kiện khí hậu tại đây, làm cơ sở cho việc nuôi mở rộng tại các vùng nước lạnh trong tỉnh. Từ đó, phát triển phong trào nuôi cá hồi vân thương phẩm, nhằm phát huy tiềm năng nguồn nước lạnh, bổ sung thêm một đối tượng nuôi mới có hiệu quả kinh tế cao, góp phần khai thác hợp lý tài nguyên đất và nước bị bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả tại địa phương.

ết quả thực hiện

hảo sát, lựa chọn địa điểm thực hiện dự án

Qua chuyến tham quan học tập kinh nghiệm ở Sa Pa - Lào Cai, Na Hang - Tuyên Quang và dựa vào đặc điểm sinh học của cá hồi vân, dự án đã tiến hành khảo sát lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình nuôi ở một số vùng có điều kiện khí hậu mát mẻ của tỉnh như Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong. Dựa vào các tiêu chí lựa chọn địa điểm thực hiện dự án, đã chọn địa điểm triển khai dự án là xã Na Ngoi - huyện Kỳ Sơn - Nghệ An.

ham quan, học tập kinh nghiệm

Ngay sau khi dự án được phê duyệt, Phân viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ đã tổ chức đoàn cán bộ kỹ thuật gồm 05 người đi tham quan thực tế, học tập kinh nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu thủy sản nước lạnh Sapa, Lào Cai và vùng nuôi cá Na Hang, Tuyên Quang trong 10 ngày.

Qua chuyến thực tế, cán bộ dự án đã tìm hiểu, nắm bắt được cách thiết kế và vận hành hệ thống nuôi cá nước chảy, một số kinh nghiệm về nuôi thương phẩm cá hồi vân như: việc thuần dưỡng và vận chuyển cá giống; theo dõi, chăm sóc và phòng trị bệnh cho cá. Đây là tiền đề để vận dụng vào thực tế triển khai dự án tại Na Ngoi - Kỳ Sơn.

Cũng qua chuyến tham quan thực tế, đoàn đã tìm hiểu, nghiên cứu chọn Trung tâm Nghiên cứu thủy sản nước lạnh Sapa (trực thuộc Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I) làm đơn vị chuyển giao quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm cá hồi vân cho dự án. Trung tâm có kinh nghiệm trong việc ương nuôi cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi), có bản quyền công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá nước lạnh. Do đó, Trung tâm có đủ năng lực để chuyển giao công nghệ, cung cấp giống, thức ăn nuôi cá hồi vân cho đơn vị triển khai thực hiện dự án thành công.

nhận và hoàn thiện công nghệ nuôi thương phẩm cá hồi vân tại Kỳ Sơn

Sau khi tham quan học tập kinh nghiệm và tìm hiểu kỹ năng lực khoa học công nghệ, Phân viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ (Bên A) đã tiến hành ký hợp đồng chuyển giao công nghệ với Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản nước lạnh SaPa, thuộc Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I (Bên B). Bên chuyển giao (Bên B) cử 1 cán bộ kỹ thuật vào Kỳ Sơn, Nghệ An chuyển giao công nghệ và hướng dẫn các kỹ thuật cho cán bộ của dự án. Bên tiếp nhận (Bên A) cử 06 cán bộ kỹ thuật tiếp thu các quy trình công nghệ được chuyển giao. Sau thời gian 20 ngày, các cán bộ kỹ thuật của bên A đã nắm vững các quy trình công nghệ và triển khai sản xuất thử nghiệm.

ản xuất thử nghiệm

4.1. Quy mô sản xuất thử nghiệm

Dự án được triển khai trong diện tích đất của Tổng đội TNXP8-XDKT thuộc xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, cách đường quốc lộ 7 (Khe Kiền) 40km, cách UBND xã Na Ngoi 5km về phía Tây, thuộc khu vực núi cao dọc tuyến biên giới Việt - Lào. Cá hồi vân được tiến hành nuôi trong hệ thống nuôi gồm 6 bể hình trụ tròn, mỗi bể có thể tích 30m 3. Tổng diện tích bể nuôi cá trong khuôn khổ dự án là 180m 3. Nguồn nước cấp vào hệ thống được lấy từ suối có chênh lệch độ cao so với khu đặt bể nuôi khoảng 3-4m. Nước chảy tự động vào bể, từ trên xuống bằng đường ống cấp tiết diện 140mm và thoát ra ở giữa đáy bằng ống 140mm.            

Đơn vị thực hiện dự án đã triển khai 3 lần nuôi thử nghiệm ở 3 thời điểm khác nhau, với kích cỡ cá khác nhau, cá giống đều được chuyển về từ Sapa (Lào Cai):

- Đợt 2: Ngày 20/1/2009, đơn vị thực hiện dự án tiếp tục chuyển cá từ Sapa về nuôi với số lượng 579 con, kích cỡ cá 230g/con. Trong đợt vận chuyển này, tỷ lệ sống của cá là 98,5%. Với các yếu tố môi trường nuôi phù hợp với ôxy hoà tan dao động 5,1-6 mg/l, pH dao động 6,8-7,5, nhiệt độ nước dao động 15-20 0C…, cá sinh trưởng nhanh, đạt bình quân 1,32kg sau 5 tháng nuôi, tỷ lệ sống đạt 95,5%. Tổng lượng cá thu được 544 con, sản lượng 753kg.

- Đợt 3: Ngày 6/3/2009, có 7.000 con cá hồi giống cỡ 2-5g/con được vận chuyển về ương tại Kỳ Sơn. Trong quá trình nuôi, sự biến động của các yếu tố môi trường nước (nhiệt độ, ôxy hòa tan, pH, độ trong) được theo dõi định kỳ 2 lần/ngày. Một số kết quả cụ thể: pH buổi sáng dao động 6,87±0,087, pH buổi chiều dao động 7,51±0,117; hàm lượng ôxy hòa tan dao động trong khoảng 5,1±0,048mg/l đến 7,91±0,075mg/l; độ trong trung bình lớn hơn 80cm. Các yếu tố môi trường nước trong suốt thời gian nuôi tương đối phù hợp cho sự sinh trưởng của cá hồi vân. Kết quả theo dõi sinh trưởng của cá cho thấy, cá sinh trưởng nhanh trong suốt thời gian nhiệt độ thấp hơn 22 0C của năm 2009 và đầu năm 2010, với tốc độ sinh trưởng tuyệt đối 2,3g/ngày. Tỷ lệ sống đến giai đoạn cá giống (10g/con) đạt 80% và từ giai đoạn cá giống lên cỡ thu hoạch (870g/con) đạt hơn 96%. Tuy nhiên, nhiệt độ nước tăng lên cao đột biến vào tháng 5/2010, làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá hồi nuôi. Cá có hiện tượng chết do nhiệt độ vượt quá ngưỡng chịu đựng và một số bệnh có cơ hội phát triển (như bệnh do vi khuẩn Furunculosis, nấm và ký sinh trùng ký sinh ở mang, da, vây, đuôi). Phân viện đã báo cáo với Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An và xin được thu hoạch sớm số cá trên về cấp đông. Tổng số cá thu được là 3.800 con, tương đương 3.306kg.

Tổng sản phẩm cá thu hoạch từ 3 đợt nuôi khác nhau là 4.596kg, phù hợp với yêu cầu đề ra của dự án.

Các chỉ tiêu môi trường được ghi chép tại hệ thống bể trong suốt quá trình nuôi: nhiệt độ nước thường dao động từ 11,6-21,5 0C, nhưng cũng có tháng nhiệt độ tăng cao đột biến lên tới 27 0C trong nhiều ngày (tháng 5/2010), hàm lượng ôxy hòa tan cao nhất 7,9mg/l và thấp nhất 5,1mg/l, pH dao động từ 6,9-7,5. Nhìn chung, các yếu tố môi trường nước nuôi trong suốt thời gian nuôi tương đối phù hợp cho sinh trưởng của cá hồi vân. Kết quả theo dõi cho thấy, cá sinh trưởng nhanh trong suốt thời gian nhiệt độ thấp hơn 22 0C của năm 2009 và đầu năm 2010. Tuy nhiên, nhiệt độ nước tăng lên cao đột biến vào tháng 5/2010 (trung bình buổi sáng 22,1 0C và buổi chiều 25,4 0C), làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và gây chết lượng lớn cá hồi nuôi.

Laird & Needham (1988) cho rằng, cá hồi sinh sống trong các thuỷ vực nước lạnh, có thể chịu được ngưỡng nhiệt độ dao động -0,5-24 0C. Cá sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ nước từ 4-18 0C, đặc biệt những nơi có nguồn nước sạch và hàm lượng ôxy cao. Còn Sedgwick (1985) cho rằng, nhiệt độ thích hợp cho nuôi cá hồi dao động trong khoảng 10-18 0C và không vượt quá 22 0C.

Bảng: Tốc độ tăng trưởng của cá hồi qua các đợt nuôi

Chỉ tiêu

Các đợt nuôi

Đợt 1

(330g/con giống)

Đợt 2

(230g/con giống)

Đợt 3

(10g/con giống)

Tăng trưởng bình quân trên ngày (g/ngày)

7,9

7,3

2,3

Nhiệt độ trung bình ( 0C)

17

17

19,2

Ôxy hòa tan trung bình (mg/l)

6,2

6,2

5,9

pH trung bình

7,0

7,0

7,2

Bảng trên cho thấy, cá hồi vân nuôi ở Kỳ Sơn sinh trưởng tương đối nhanh, đối với cỡ giống 230 và 330g/con có tốc độ sinh trưởng bình quân/ngày là 7,3 và 7,9g/ngày; cỡ giống 10g/con có tốc độ sinh trưởng bình quân 2,3g/ngày. Các đợt nuôi 1 và 2 có tốc độ sinh trưởng trung bình trên ngày cao hơn so với đợt nuôi thứ 3. Nguyên nhân là do giai đoạn cá trên 100g/con, tốc độ sinh trưởng trung bình trên ngày cao hơn so với giai đoạn cá hồi giống nhỏ. Kết quả này cho phép kết luận rằng, điều kiện môi trường, khí hậu ở Kỳ Sơn phù hợp cho cá hồi sinh trưởng. Tuy nhiên, để tránh thiệt hại do nhiệt độ tăng cao đột biến trong những tháng mùa hè, nên mỗi vụ nuôi chỉ kéo dài trong thời gian 8-9 tháng (từ tháng 8 đến tháng hết tháng 4 năm sau), với việc thả giống có kích có lớn (200-250g/con). Mặt khác, việc thả giống có kích cỡ lớn cho tỉ lệ sống cao và tốc độ tăng trưởng nhanh, từ đó giúp người nuôi tăng hiệu quả kinh tế.

Kết quả nuôi thương phẩm của dự án được tổng hợp như sau:

- Sản lượng: Tổng sản lượng thu hoạch của dự án đạt 4.596kg, vượt so với kế hoạch đề ra (từ 3.000-3.500kg). Tuy nhiên, kích cỡ thương phẩm chưa đạt yêu cầu (cá đạt cỡ 0,87kg/con, thấp hơn so với chỉ tiêu đề ra là 1,2kg/con). Nguyên nhân là do nhiệt độ tăng đột biến ở tháng 5/2010, vượt ngưỡng chịu đựng của cá hồi nên phải thu hoạch sớm hơn so với kế hoạch.

- Năng suất: Năng suất cá nuôi qua 3 đợt dao động từ 9,2 đến 18,5kg/m 3, thấp hơn năng suất cá nước lạnh nuôi trong bể nước chảy tràn ở Sapa và một số nơi khác (từ 20-25kg/m 3). Năng suất cá thu được thấp liên quan đến lượng cá giống thả ban đầu không đủ do tỷ lệ sống thấp sau quá trình vận chuyển. Tỷ lệ sống của đợt nuôi 1 và 2 đạt rất cao (95% và 95,5%), đợt 3 (68%). Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sống thấp ở đợt nuôi thứ 3 là do nhiệt độ tăng cao đột biến, vượt ngưỡng cho phép, nên cá hao hụt cá với lượng lớn; đây là nguyên nhân gây chết cá chủ yếu trong quá trình nuôi.

- Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR):Tổng lượng thức ăn cá sử dụng là 7.088kg. FCR của 3 đợt nuôi lần lượt là: đợt 1 là 1,5; đợt 2 là 1,4; đợt 3 là 1,7. Nhìn chung, giá trị FCR của các đợt 1 và 2 nằm trong khoảng bình thường, nhưng ở đợt 3 thì quá cao, nguyên nhân là cá chậm lớn do nhiệt độ tăng cao bất thường như đã lý giải ở phần trên.

iệu quả kinh tế - xã hội của dự án

1. Hiệu quả kinh tế

Cá hồi vân là đối tượng có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ tốt. Hiện tại giá bán trên thị trường là 170.000-190.000 đồng/kg, đặc biệt năm 2010, tại trại nuôi Sapa, cá được bán với giá 250.000-300.000 đồng/kg đối với cá còn sống và 130.000 đồng/kg đối với cá đông lạnh.

Tuy nhiên, giá thành sản phẩm của dự án tại Kỳ Sơn tương đối cao, tương đương 139.235 đồng/kg. Nguyên nhân là do đợt nuôi thứ nhất, cá giống bị hao hụt khá nhiều (còn lại 227 con, tỷ lệ hao hụt do vận chuyển 66,5%) trong quá trình vận chuyển vì giao thông khó khăn vào những ngày mưa; đặc biệt là vào tháng 5/2010 (đợt nuôi thứ 3) có một lượng lớn cá đã bị chết do nhiệt độ tăng cao đột biến, trong khi cá chưa đạt đến kích thước thương phẩm. Bên cạnh đó, trong quá trình nuôi có một số tháng là mùa mưa khiến nguồn nước cấp bị khuấy đục, do đó tốn thêm nhiều kinh phí để mua thuốc sát trùng, phòng bệnh cho cá.

Nhìn chung, do nhiều nguyên nhân khách quan dẫn đến hiệu quả kinh tế của dự án tại Kỳ Sơn chưa cao như kỳ vọng. Để khắc phục những nguyên nhân trên nhằm giảm giá thành sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế, nên chọn địa điểm nuôi có giao thông thuận lợi; mùa vụ nuôi từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau, là những tháng mùa khô và có nhiệt độ thích hợp cho cá hồi sinh trưởng và phát triển, với kích cỡ giống lớn từ 200-250g/con.

2. Hiệu quả xã hội

Dự án đã đưa đối tượng cá hồi vân vào nuôi thử nghiệm bước đầu có hiệu quả kinh tế, xây dựng được quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm đã mở ra một đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế, góp phần đa dạng đối tượng nuôi nước ngọt tại Nghệ An. Đồng thời, góp phần chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế, khai thác hợp lý tài nguyên đất và nước bị bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả; góp phần nâng cao tính giáo dục cho đồng bào trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ các con suối vốn đang bị khai thác ngày càng cạn kiệt. Vì vậy, môi trường, khí hậu trong vùng ngày càng được cải thiện, tạo sức hấp dẫn trong việc phát triển các nghề dịch vụ, du lịch trong tương lai. Đời sống của đồng bào vì thế được nâng lên, an ninh, quốc phòng được giữ vững.

ết luận và kiến nghị

ết luận

Điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu tại vùng thực hiện dự án (Na Ngoi, Kỳ Sơn) phù hợp để nuôi cá hồi vân bằng hệ thống nước chảy. Dự án đã xây dựng được quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm cá hồi vân phù hợp với điều kiện sinh thái tại Kỳ Sơn, với các chỉ tiêu kỹ thuật: tỷ lệ sống trung bình 86,17%, năng suất 18,2kg/m 3bể, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 1,6; mùa vụ sản xuất phù hợp từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau (mùa thu đến cuối mùa xuân).

Dự án đã tổ chức tiếp nhận thành công các quy trình công nghệ trong nuôi cá hồi vân thương phẩm và đào tạo được 06 cán bộ kỹ thuật nắm vững quy trình kỹ thuật thiết kế lắp đặt, vận hành hệ thống bể; vận chuyển cá giống; quản lý, chăm sóc cá; phòng trị một số bệnh thông thường cho cá.

Dự án đã sản xuất được 4.596kg cá thương phẩm, đáp ứng được mục tiêu đề ra.

Kiến nghị

Quy trình kỹ thuật nuôi cá hồi vân thương phẩm nên tiến hành ở kích cỡ con giống lớn (>200g) và thời vụ nên tiến hành từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau, giảm thiểu rủi ro do nắng nóng ở mùa hè, sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Đề nghị UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ kinh phí tập huấn kỹ thuật, chuyển giao quy trình kỹ thuật, nhân rộng mô hình nuôi cá hồi vân thương phẩm ở một số địa phương có khí hậu mát mẻ trong tỉnh Nghệ An./.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).