Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 30/03/2012 17:15 (GMT+7)

Tổ GK thời chống Mỹ

Mỹ phong tỏa, GK ra đời

Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ bắt đầu dùng không quân ném bom triệt phá miền Bắc Việt Nam. Từ 1967 đến 1968, Mỹ có thêm thủ đoạn mới là dùng máy bay chuyên dụng thả thủy lôi từ tính (TLTT) và bom từ trường (BTT) xuống các cảng biển, đường sông, đường bộ ở nhiều tỉnh, thành phố phía Bắc. Quân dân ta đã bắn trả quyết liệt, bắn rơi nhiều máy bay thả bom, thủy lôi đồng thời rà phá thành công nhiều loại TLTT, BTT của địch.

Ngày 9-5-1972 tổng thống Mỹ R.Ních-xơn lên đài đọc tuyên bố phong tỏa giao thông miền Bắc Việt Nam bắt đầu từ 9 giờ 9 phút, cùng lúc ra lệnh dùng không quân thả TLTT, BTT mật độ dày trên diện rộng. Đặc biệt là cảng Hải Phòng và các vùng lân cận. Bọn chúng cũng rêu rao là đưa vào cuộc chiến nhiều vũ khí cải tiến tinh vi thông minh có khả năng sát thương cao. Trước tình hình đó, ngành Giao thông vận tải (GTVT) cần được bổ sung thêm lực lượng nghiên cứu và xây dựng phương án rà phá bom mìn để đối phó với những thủ đoạn mới của địch. Bộ trưởng GTVT Phan Trọng Tuệ (nguyên Thiếu tướng quân đội) đặt vấn đề phối hợp với Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp do GS Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng. Và Trường đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBK), một trung tâm đào tạo, nghiên cứu về khoa học-công nghệ lớn nhất nước ta ngày ấy được chọn là đầu mối phối hợp nghiên cứu. Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ ra Quyết định số 338/BT thành lập Tiểu ban Rà phá bom mìn, thủy lôi trong Ban Bảo đảm giao thông do ông Nguyễn Kha, Vụ trưởng Vụ Kỹ thuật, Bộ GTVT làm trưởng tiểu ban. Tiểu ban này có 6 tổ chuyên môn thuộc các đơn vị ở Bộ GTVT, riêng tổ số 1 có tên là “Nghiên cứu cơ bản và thiết kế phương án” do GS TSKH Vũ Đình Cự thuộc ĐHBK biệt phái sang Bộ GTVT làm tổ trưởng và các tổ viên đều là cán bộ ĐHBK. Tổ này có mật danh là GK1 với ý nghĩa G là Giao thông, K là Bách khoa, 1 là tổ phối hợp đầu tiên, về sau sẽ có GK2, GK3....

 Thực tế tổ GK1 thành lập từ cuối tháng 5-1972, ngoài GS Vũ Đình Cự (tổ trưởng) có các thành viên: PGS, TS Nguyễn Bính ngành Tự động hóa; PGS Bùi Minh Tiêu ngành Vô tuyến điện tử; PGS, TS Nguyễn Xuân Chánh ngành Vật lý chất rắn; PGS Nguyễn Nguyên Phong ngành Vật lý hạt nhân; PGS Nguyễn Trọng Quế ngành Thiết bị điện và đo lường. Hai tháng sau, tổ được bổ sung thêm 5 thành viên cũng là những giảng viên có trình độ cao của trường. Tổ GK2 được thành lập trên cơ sở bộ phận chế tạo ca nô không người lái điều khiển từ xa để rà phá bom thủy lôi có từ thời kỳ chống phong tỏa 1967-1968. Năm 1972 tổ ca nô không người lái cũ đã cải tiến cách điều khiển vô tuyến, sử dụng các phương pháp rà phá mới của GK1 để hình thành GK2 làm nhiệm vụ rà phá bom mìn thủy lôi thả trên sông. Hai cán bộ chủ chốt của GK2 là ông Nguyễn Hữu Bảo (Bộ GTVT) và ông Đoàn Nhân Lộ (ĐHBK). Sau năm 1973 thành lập thêm các tổ GK3, GK4 chủ yếu là làm các việc giải tỏa hết các loại bom, mìn, thủy lôi còn sót lại ở vùng cảng, cửa sông.

Tìm và phá “bẫy”

Những thành viên đầu tiên của tổ GK1 giờ đều đã ở tuổi 70-80 cả. PGS, TS Nguyễn Xuân Chánh (sinh năm 1932) nhớ lại: “Việc phối hợp giữa Bộ GTVT và ĐHBK ngày đó được tiến hành rất thuận lợi theo cách làm việc trong thời chiến, chỉ sau một tuần là có đủ điều kiện để tổ bắt tay ngay vào công việc. Hai vị bộ trưởng đều đã nêu yêu cầu là phải tập trung trí tuệ tìm cho ra cái bẫy điều khiển tự động cài đặt trong vũ khí của địch. Rà phá được bom mìn, thủy lôi, nhưng phải giảm thiểu hoặc ngăn chặn không để xảy ra thương vong cho người và phương tiện. Tổ chúng tôi nhận thức rõ yêu cầu mà hai Bộ trưởng đề ra, ai cũng nỗ lực hết mình, đồng thời có sự giúp sức của nhiều đơn vị. Chúng tôi được biết sau ngày địch thả thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng không lâu, ngày 12-5-1972 xã viên HTX đánh cá Tràng Cát (An Hải, Hải Phòng) lần đầu tiên phát hiện một quả thủy lôi lớn mang ký hiệu MK-52 ở gần đèn Nơm trên luồng chính vào cảng. Về BTT, lần này Mỹ cũng đưa ra loại mới MK36 với đầu gây nổ MK42 mod 3. Khi tổ GK1 xuống Hải Phòng, nhờ lòng dũng cảm của các chiến sĩ rà phá bom mìn ở cảng, trong một thời gian ngắn họ đã mang về cho tổ các hiện vật quan trọng là quả MK-52 còn nguyên vẹn, quả MK-36 với đầu điều khiển MK-42 mod 3. Lúc đó có tin đồn đoán rằng: MK-52 là loại vũ khí tinh vi, có cả cảm biến từ, cảm biến âm và cảm biến theo một loại sóng gì đấy có thể điều khiển từ xa. Sau một thời gian ngắn nỗ lực tìm hiểu, chúng tôi khẳng định thủy lôi MK-52 có cảm biến là thanh sắt từ các bộ phận tương đối cổ điển dễ nhận biết song mạch điều khiển có những cải tiến. Còn thủy lôi nhỏ hay bom từ trường MK-36 có đầu điều khiển MK-42 rất đặc biệt, nhiều linh kiện bán dẫn đúc kín và cảm biến là màng mỏng từ. Cảm biến màng mỏng từ là một thành tựu khoa học công nghệ mới của thế giới lúc đó, được Mỹ ứng dụng ngay vào chiến tranh. Ở đây có một sự “gặp gỡ” thú vị. Đề tài nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ của GS Vũ Đình Cự tại Đại học Lô-mô-nô-xốp (Liên Xô cũ) cũng chính ở lĩnh vực này. Bởi thế cái bẫy màng mỏng từ nhanh chóng được phát hiện và bài toán phức tạp về hệ thống điều khiển tự động cũng dần dần được giải mã. Trong việc tìm hiểu xác định đặc tính kỹ thuật của đầu điều khiển BTT, còn có sự đóng góp quan trọng của một nhà khoa học trong nhóm là PGS Bùi Minh Tiêu. PGS Tiêu về tuổi đời là anh cả của tổ GK. Ông sinh năm 1922, từng là cán bộ Nha nghiên cứu quân giới từ năm 1947, sau hòa bình ông là kỹ sư nghiên cứu về điện tử ở Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc, là cán bộ giảng dạy về vô tuyến điện tử ở ĐHBK từ 1958”.

 Trong một bài viết về tổ GK ngày ấy của PGS Nguyễn Trọng Quế (sinh năm 1931), cũng có đoạn ghi nhớ đóng góp của người anh cả của nhóm: “Công việc xác định đặc tính kỹ thuật của đầu điều khiển thuộc về anh Tiêu. Bao nhiêu ngày trầm ngâm suy nghĩ ngồi vạch ra các sơ đồ và các tín hiệu điều khiển số, anh đã xác định rõ ràng nguyên lý làm việc của MK-42… Các thông số được đo đạc bằng các phương tiện tốt nhất thời ấy. Chính nhờ các thông số đó, các thiết bị rà phá được thiết kế vững vàng hơn, các máy nhiễu bom từ trường được ra đời… Kiến thức anh Tiêu rất rộng. Anh am hiểu kỹ thuật điện tử tương tự, điện tử số, truyền tin trên sóng vi ba, truyền tin nhiều kênh. Anh luôn được bạn bè kính trọng, sinh viên quý mến, nhiều sinh viên coi anh như người cha, điều này được thể hiện trên những khuôn mặt đẫm nước mắt trong tang lễ anh Tiêu năm 1986”.

Cũng cần phải nói thêm trong thời gian nghiên cứu, trường ĐHBK đã tập trung nhiều thiết bị hiện đại do Liên Xô vừa trang bị để tổ GK sử dụng, bố trí điện nước bảo vệ nhà A cẩn mật để làm nơi nghiên cứu. Mặt khác Bộ GTVT đã tạo rất nhiều điều kiện để tổ đi lại tiếp xúc rút kinh nghiệm với các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ rà phá. Nhờ vậy trong thời gian hơn 3 tháng, nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản để đưa ra các biện pháp rà phá xem như hoàn thành. Không chỉ phổ biến để các đơn vị của Bộ GTVT hiểu nguyên lý để cải tiến các cách rà phá cũ cho có hiệu quả, tổ GK1 còn tổ chức cho các xưởng ở ĐHBK làm ra các dụng cụ máy móc mới để rà phá hoặc phục vụ việc rà phá. Đó là: các bộ điều khiển tạo xung từ thích hợp cho việc làm nổ bom mìn thủy lôi, các cuộn phóng từ cơ động để lắp trên ô tô, trên ca nô để đi rà phá, các bộ gây nhiễu làm câm bom, mìn thủy lôi để đảm bảo an toàn khi tiếp cận...

Công việc từ phòng thí nghiệm ra chiến trường được triển khai hết sức mau lẹ, hiệu quả cao. Nhờ các loại thiết bị ứng phó mới của ta mà cuộc chống phong tỏa đến năm 1973 đã đạt được những kết quả to lớn. Nhiều TLTT, BTT được phá, tháo gỡ, đặc biệt trong các năm 1972-1973 khi triển khai các ứng dụng nghiên cứu của GK1 đã không xảy ra trường hợp thương vong, thiệt hại nào cho các chiến sĩ cùng phương tiện rà phá. Tất cả các công việc GK làm đều thuộc diện bí mật. Chỉ sau khi ký hiệp định Pa-ri, Mỹ phải rút hết quân khỏi Việt Nam, vào nửa cuối năm 1973, tổ GK1 mới được biết đến công khai khi Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, bằng khen cho tổ và các thành viên.

Trong Giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình “Phá TLTT và BTT bảo đảm giao thông 1967-1972” do Chủ tịch Lê Đức Anh ký ngày 10-5-1996, có 10 đơn vị được ghi công. GK1 là đơn vị duy nhất làm nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, đóng góp cho sự thành công của các đơn vị khác trong và ngoài quân đội trực tiếp làm nhiệm vụ rà phá. Tổ GK1 đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ, còn do biết tập trung trí tuệ và hợp tác thường xuyên với các đơn vị bạn để đạt tới mục tiêu chung. Và những bài học về sự tập hợp lực lượng, phát hiện vấn đề và triển khai cụ thể từ phòng thí nghiệm ra hiện trường của tổ GK vẫn còn mang nhiều ý nghĩa thiết thực, thời sự cho công cuộc nghiên cứu khoa học hôm nay.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phiên thứ nhất Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX diễn ra thành công tốt đẹp
Chiều 27/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Việt Nam, Phiên thứ nhất Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra với sự tham dự của đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương.
Tuổi trẻ Liên hiệp Hội Việt Nam hướng tới chào mừng Đại hội IX bằng những công trình thiết thực
Ngày 25/8, Đoàn Thanh niên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) thực hiện công trình thanh niên hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031, gồm hai hoạt động chính là cải tạo, chỉnh trang và gắn biển “Vườn hoa Thanh niên” và số hóa Phòng Truyền thống Liên hiệp Hội Việt Nam.
489 đại biểu chính thức tham dự Đại hội Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX
Ngày 24/8 tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức gặp mặt đại diện các cơ quan báo chí, thông tin về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031. Theo Ban Tổ chức, Đại hội sẽ diễn ra trong hai ngày 27 và 28/8 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với chủ đề “Đoàn kết - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”.
Phú Thọ: Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch và tuân thủ chất lượng sản phẩm
Ngày 21/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Phú Thọ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, trực tiếp là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, phối hợp với Hội Mã số Mã vạch Việt Nam tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến kiến thức về truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch, ghi nhãn hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Lào Cai: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng làm Trưởng ban Tổ chức Hội thi
Ngày 20/8, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Nguyễn Tuấn Anh đã ký ban hành Quyết định số 2945/QĐ-UBND về việc kiện toàn và thành lập Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật cùng Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng cấp tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng được tín nhiệm giao trọng trách Trưởng ban.
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 8/2026: tập trung hoàn tất công tác tổ chức Đại hội IX
Chiều 22/8, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức hội nghị thường kỳ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 8, triển khai nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026 và báo cáo công tác chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc LHHVN lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031.
Vĩnh Long: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày 21/8/2026, tại xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Chi cục Môi trường tỉnh và UBND xã An Phú Tân tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ.