Thách thức đối với nông dân hiện nay
Nền kinh tế nước ta hiện nay đã có các thành tựu xuất sắc, nhưng chủ yếu là ở các đô thị và khu công nghiệp, còn nông thôn thì ngày càng bị sa sút. Ở Trung Quốc, người ta đã thấy hiện nay cần phải tìm cách để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Nhưng ở Trung Quốc và cả Việt Nam đều thấy trong Tam nông thì chủ yếu lại là vấn đề nông dân.
Giáo sư Xã hội học Trung Quốc, Lục Ngọc Nghệ, nhận định nông dân là hạt nhân của vấn đề Tam nông. Tồn tại chủ yếu của nông dân là:
- Nông dân đông quá.
- Nông dân quá nghèo.
- Nông dân đang phân hoá.
- Nông dân yếu thế.
Tôi đồng ý với các nhận định của vị giáo sư này và thấy có thể áp dụng cho tình hình nông dân ở Việt Nam .
Hiện nay ở nước ta có tỷ lệ nông nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội khoảng 20% và có 75% dân số ở nông thôn. Do ở nông thôn cũng có những hoạt động phi nông nghiệp nên lao động nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 50% tổng số lao động.
Trong quá trình công nghiệp hoá, một số lớn lao động nông nghiệp phải rút khỏi nông nghiệp để chuyển sang công nghiệp và dịch vụ ở đô thị hoặc ở nông thôn. Chúng tôi đang xây dựng một mô hình chuyển đổi cơ cấu kinh tế đến năm 2020 trong đó mô phỏng hai phương án: 1) công nghiệp hoá chủ yếu tập trung ở đô thị và các khu công nghiệp, 2) công nghiệp hoá ở cả đô thị lẫn nông thôn. Nhận thấy phương án 2 cho phép chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhanh hơn:
- Tăng sản phẩm trong nước: 8,36% năm
- Tăng giá trị gia tăng nông nghiệp; 3,5% năm
- Tăng dân số: 1,3% năm
- Tăng dân số nông thôn: 0,6% năm
- Dân số nông thôn năm 2020: 66%
- Tăng lao động: 1,91% năm
- Tăng lao động nông nghiệp: 3,8% năm
- Lao động nông nghiệp năm 2020: 17% (50% của năm 2002)
Mục tiêu phấn đấu của chúng ta là đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp, đồng thời chuyển đổi được cơ cấu kinh tế, khó nhất là chuyển đổi cơ cấu lao động.
Trong thời gian 15 năm tới, vấn đề khó nhất đối với nước ta để trở thành một nước công nghiệp là phải làm thế nào để giảm đi một nửa số lao động nông nghiệp.
Số lao động nông nghiệp còn lại trong nông thôn sẽ làm việc trong các nông trại gia đình mà thực chất là cac doanh nghiệp nông nghiệp như ở các nước công nghiệp tiên tiến hiện nay. Ở các nước này nông dân chỉ còn khoảng 5-7% dân số nhưng vẫn nuôi sống toàn xã hội và còn xuất khẩu nông sản. Nông trại gia đình hay doanh nghiệp nông nghiệp là mục tiêu của sự phát triển kinh tế hộ nông dân. Các nông trại này chỉ có đến 3 lao động chủ yếu là thành viên của gia đình, nhưng có thể canh tác từ vài chục đến vài trăm hecta bằng máy móc nông nghiệp và có năng suất lao động rất cao. Người làm thuê trong nông nghiệp hầu như biến mất. Ở nông thôn sẽ chủ yếu là các nông trại gia đình và các doanh nghiệp nhỏ làm công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Những người chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ phải nhường đất lại cho những người làm nông nghiệp thì mới tăng được quy mô của nông trại gia đình. Nông trại gia đình có thể kinh doanh tổng hợp, có thể chuyên môn hoá sang trồng trọt, chăn nuôi hay thuỷ sản.
Việc phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp.
Hiện nay nhiều người nghĩ đến muốn có các doanh nghiệp nông nghiệp phải phát triển trang trại, kêu gọi các doanh nhân đầu tư vào nông nghiệp. Tại sao không nghĩ đến việc giúp cho các nông dân khá và trung bình trở thành doanh nhân nông nghiệp? Trong quá trình nghiên cứu về sự phát triển của kinh tế hộ nông dân sau Đổi mới, chúng tôi tin rằng việc này có thể làm được nếu chúng ta có các thể chế thích hợp.
Hiện nay ở nơi này nơi kia đã có một số nông dân trở thành chủ trang trại, nhưng hiện tượng này chưa phổ biến.
Thời gian qua chúng tôi đã giúp nông dân ở Hải Dương phát triển một mô hình hợp tác xã chuyên ngành chăn nuôi lợn. Các hợp tác xã kiểu này đã giúp các hộ nông dân trung bình, trước khi vào hợp tác xã nuôi 3 – 5 lợn một năm kết hợp với trồng trọt. Sau khi vào hợp tác xã nhờ dịch vụ tín dụng, mua chung thức ăn gia súc, cung cấp giống do một số hộ chuyên sản xuất, bảo hiểm thú y, phổ biến kỹ thuật, bán chung sản phẩm có bảo đảm chất lượng đồng đều, ổn định đã phát triển thành các nông trại chuyên môn hoá, nuôi trên 100 lợn siêu nạc, có hiệu quả kinh tế cao. Hợp tác xã đang phấn đấu để chiếm lĩnh thị trường bằng cách mở lò mổ, kho lạnh, xưởng chế biến thịt. Một hộ nông dân nuôi trên 100 lợn siêu nạc đã trở thành chủ trang trại. Mô hình này đang được một số tỉnh khác phát triển. Ở Bắc Ninh đã chủ trương tách hẳn khu vực chăn nuôi ra khỏi khu dân cư để có đất phát triển và tránh ô nhiễm môi trường. Ở Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc… đã có những cụm nông nghiệp trồng lúa chất lượng cao, rau, khoai tây, dưa hấu, vải thiều, nuôi cá, nuôi ba ba… chiếm lĩnh được thị trường. Các cụm này hoạt động được nhờ một số thể chế tự phát giúp nông dân giải quyết được đầu ra.
![]() |
| Gốm Bát Tràng |
Chuyển các làng nghề sang doanh nghiệp nhỏ và vừa
Muốn có ruộng đất cho các hộ nông dân chuyển thành nông trại gia đình, phải hỗ trợ việc di dân và thúc đẩy phát triển hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Ở nông thôn quanh Hà Nội hiện nay đã có nhiều làng nghề phát triển các cụm công nghiệp rất năng động, hiện đại hoá và chuyên môn hoá một số nghề chính và bắt đầu có phân công lao động, chuyển một số hộ nông dân chuyên làm nghề sang thành các doanh nghiệp gia đình nhỏ. Các cụm công nghiệp như đồ gỗ Đồng Kỵ, sắt thép Đa Hội, giấy Phong Khê, gốm sứ Bát Tràng, chế biến màu Hoài Đức… đã tạo việc làm cho nhiều xã xung quanh, sinh ra hàng trăm doanh nghiệp nhỏ rất năng động.
![]() |
| Cán bộ kỹ thuật trên đồng ruộng |
Phát triển hoạt động phi nông nghiệp để giảm việc thiếu việc làm
Năm 2002, trong nước có 39.286 triệu người làm việc, 5.942 triệu người trong công nghiệp (15,1%), 9.509 triệu người trong dịch vụ. Ở nông thôn 30.094 triệu người (76,6%) có việc làm, trong đó 3.281 triệu người làm trong công nghiệp và xây dựng (10,9%) và 4.071 triệu người trong dịch vụ (13,5%). Như vậy 55% công nhân ở nông thôn sản xuất 15% hàng công nghiệp.
Theo tổ chức Công nghiệp của LHQ (UNIDO), năm 1996 có 483.000 xí nghiệp nhỏ và vừa với 1.450 triệu người và 2 triệu hộ làm hoạt động phi nông nghiệp, trong đó 14% là của nhà nước, 5,8% của HTX và 80% là tư nhân.
Có một khu vực 1.450 làng nghề, trong đó có 300 làng làm nghề truyền thống, với 27% hộ kiêm và 13,5% hộ chuyên.
Nghiên cứu về chuyển đổi cơ cấu kinh tế (bộ môn HTNN, 2005) cho thấy chuyên môn hoá trong việc phát triển nông sản thô để xuất khẩu không thể chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Việc đa dạng hoá của sản xuất nông nghiệp trên thị trường thế giới và trong nước và việc phát triển công nghiệp chế biến cần cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Về thu nhập nông dân, phần của hoạt động phi nông nghiệp rất quan trọng. Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp không phải chỉ từ công nghiệp và xây dựng mà còn từ buôn bán, vận tải, tài chính, tô tức và du lịch. Ngoài ra thu nhập từ bán trực tiếp nông sản, bán sức lao động trong vùng và ở đô thị, ở nước ngoài, kiều hối, bảo hiểm xã hội, lợi tức cũng quan trọng. Việc tăng lao động ở nông thôn tạo thất nghiệp ở nông thôn và giảm quy mô của hộ. Ở miền Nam , nông dân không đất tăng lên, ở miền Bắc, nông dân bỏ nông nghiệp lại không bán ruộng đất. Đây là thách thức cho phát triển nông thôn. Suất tăng lao động nông thôn trong 25 năm qua là 3,1%/năm. Công nghiệp và dịch vụ đô thị không thu hút hết lao động tăng lên. Nếu ta không rút được lao động ra khỏi nông nghiệp thì năng suất lao động và thu nhập trên đầu người không thể tăng được. Vì vậy cần tăng nhanh hoạt động phi nông nghiệp. Khoảng 13% lao động di cư tạm thời ra đô thị tìm việc.
![]() |
| Gỗ Đồng Kỵ |
Ở Việt Nam không thấy công nghiệp hương trấn như ở Trung Quốc. Sau Đổi mới, số xí nghiệp quốc doanh giảm một nửa. Nhiều xí nghiệp địa phương bị phá sản. Các HTX thủ công nghiệp, mua bán và tín dụng bị giải tán cùng với HTX nông nghiệp. Tất cả các việc này làm giảm hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Các xu hướng khác nhau trong việc phát triển hoạt động phi nông nghiệp là:
- Phục hồi các làng nghề truyền thống và thích ứng với thị trường hiện đại và tạo các làng nghề mới.
- Tạo các làng chuyên về chế biến thực phẩm và nông sản.
- Đa dạng hoá dịch vụ, buôn bán và cung cấp lao động cho thị trường nông thôn mới và đô thị.
Ở một số vùng như Bắc Ninh thấy có quá trình hiện đại hoá các làng nghề, xuất hiện các “cụm công nghiệp” trong đó các hộ làm nghề chuyển thành các xí nghiệp vừa và nhỏ. Việc xuất hiện này giống như ở miền Bắc và miền Trung nước Italia, là kết quả của các thể chế phi hình thức không được Nhà nước hỗ trợ. Trong các cụm công nghiệp này, tính năng động của nông dân, kết hợp với vốn xã hội là rất quý đối với việc công nghiệp hoá và phát triển kinh tế thị trường.
Ở nước ta thấy có hai quá trình tách rời nhau: phát triển các khu công nghiệp thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài và sự xuất hiện của tính năng động địa phương của nông dân. Việc thống nhất hai quá trình này có lợi cho việc công nghiệp hoá.
Vấn đề đất
Quan niệm tiêu chuẩn về quá trình chuyển sang cơ chế thị trường của các nước XHCN là phải tư nhân hoá tài sản, sau đấy thay đổi luật để cho việc trao đổi tài sản được tự do (Ravallion M., van de Walle D., 2004).
Một dự án của ADB (2005) “làm cho thị trường hoạt động cho người nghèo” được thực hiện ở Việt Nam . Dự án này tập trung vào việc xây dựng một hệ thống quản lý ruộng đất bảo đảm cho thị trường hoạt động hiệu quả và để cho người nghèo không bị thiệt. Quan điểm của dự án này là giả thuyết của de Soto cho rằng nghèo sẽ được giảm và phúc lợi sẽ được tạo ra nếu chuyển khu vực phi hình thức sang hình thức.
Gần đây có xu hướng dồn điền và tích luỹ ruộng đất để thuận lợi cho sự phát triển kinh tế hàng hoá. Một sự thay đổi dần từ sản xuất lương thực sang cây hàng hoá cũng đang xảy ra. Cả hai quá trình tích luỹ ruộng đất và thay đổi sử dụng bị chính sách chính phủ giới hạn. Chính sách ruộng đất ảnh hưởng đến việc chuyển hộ nông dân từ nông nghiệp tự cấp sang sản xuất hàng hoá có liên quan đến quy mô sở hữu đất của hộ và sự trao đổi quyền sử dụng (qua cho thuê hay chuyển nhượng) và chính sách sử dụng đất và cho thuê đất. Việc cho thuê không ổn định ảnh hưởng đến việc đầu tư.
Các thách thức của nông nghiệp Việt Nam do ảnh hưởng của chính sách ruộng đất là:
- Phải tăng khả năng của nông nghiệp hàng hoá bằng dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất.
- Giải phóng lao động nông nghiệp bằng cách phát triển ngành phi nông nghiệp.
- Giữ vững thu nhập của hộ tiểu nông trong điều kiện giá nông sản thay đổi và tăng giá đầu vào.
Nhu cầu cho phép sử dụng đất mềm dẻo sẽ cho phép nông dân phản ứng với tín hiệu của thị trường. Chính sách ruộng đất sẽ ảnh hưởng đến dồn điền và tích luỹ, và sẽ ảnh hưởng đến sử dụng đất và lựa chọn kỹ thuật, có quan hệ đến năng suất ruộng đất. Vì có một sức ép đáng kể đến việc cải cách ruộng đất ở Việt Nam , sự chống đối về ý thức hệ và lo lắng thực tế làm chậm việc cải cách (Marshes, MacAulay T.G., 2002).
Năm ngoái Quốc hội đã thông qua luật ruộng đất mới. Luật này hợp pháp hoá thị trường ruộng đất phi hình thức. Đã có nghị định quy định giá đất mới cho các vùng, gần với giá thị trường. Giá đất mới là kết quả của việc đầu cơ ruộng đất thời gian qua, nên người nghèo khó có thể tăng quy mô của đất đai mình và có thể dễ bị mất đất hơn (Bộ môn HTNN, 2005).
Vấn đề hợp tác xã
Chúng ta đã có luật hợp tác xã (HTX), nhưng đến nay HTX vẫn chưa được phổ biến ở nông thôn. Nông dân chưa thiết tha với HTX.
Nguyên nhân là do chúng ta chưa thống nhất với nhau thế nào là HTX:
- HTX là một thể chế tổ chức nông dân chủ yếu dựa trên sự tương trợ, HTX thuộc về kinh tế mang tính xã hội và tương trợ chứ không phải nhằm mục đích thu lợi nhuận. Mục đích của việc lập HTX là để tránh cho nông dân các tác dụng tiêu cực của kinh tế thị trường. Hiện nay người ta thường lẫn lộn HTX với công ty cổ phần, vì các xã viên HTX cũng phải đóng cổ phần. Để tránh sự lẫn lộn này, ở các nước người ta không gọi số tiền do xã viên HTX đóng góp cho HTX thực hiện hiện dịch vụ là cổ phần mà gọi là phần vốn xã hội. Khác nhau giữa vốn xã hội và cổ phần là vốn xã hội không được chia lãi, vì HTX không có lãi. Mỗi xã viên thường chỉ đóng một phần vốn xã hội, và các xã viên chỉ được quyền bổ mỗi người một phiếu chứ không phải bỏ phiếu theo số cổ phần như trong công ty.
Coi HTX giống như công ty cổ phần đã dẫn đến tình trạng như hiện nay ở các địa phương có các HTX do một số nông dân giàu đóng cổ phần, ai nhiều cổ phần thì người ấy kiểm soát HTX khiến nông dân nghèo không muốn tham gia HTX. Sự lẫn lộn này đã tạo nên tình trạng rất phổ biến hiện nay là có nhiều HTX mang tính trá hình, thực chất là các xí nghiệp tư nhân.
- Hiện nay chúng ta đã công nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ. Vậy phải tổ chức HTX như thế nào để không tạo mâu thuẫn giữa hộ nông dân và HTX. Về nguyên tắc HTX chỉ làm những việc mà hộ nông dân không làm được một cách riêng rẽ. Vì vậy không thể tách rời công việc của hộ nông dân và HTX nếu các công việc ấy nằm trong một hoạt động kinh tế.
Nhà kinh tế học Nga Tchayanov, chủ tịch Liên hiệp HTX Nga sau Cách mạng tháng Mười đã định nghĩa HTX như sau: “HTX là hiệp hội của các hộ nông dân, trong HTX chỉ xã hội hoá một phần sản xuất, chính phần mà sản xuất lớn có ưu thế hơn sản xuất nhỏ. Quá trình này có thể thực hiện mà không phá hoại hộ nông dân lao động, bằng cách tách ra về mặt tổ chức các ngành và hoạt động mà sự liên hiệp lại trên nguyên tắc hợp tác sao cho có hiệu quả kinh tế. Do đó HTX nông nghiệp là hình thức bổ sung cho các hộ nông dân tự chủ, phục vụ nó, nếu không có nó thì không có nghĩa”.
Vì vậy không thể coi hộ nông dân và HTX thuộc hai thành phần kinh tế riêng. Việc phân biệt này sẽ làm mất tính chất của HTX. Trước kia lúc HTX là các tổ chức kinh tế tập thể thì HTX mới là một thành phần kinh tế khác với thành phần kinh tế hộ nông dân. Nếu HTX là các tổ chức giúp hộ nông dân làm các việc mà thành phần kinh tế cá thể không làm được thì HTX và hộ nông dân thuộc một thành phần. Theo nguyên tắc tổ chức HTX trên toàn thế giới, HTX không phải là một tổ chức kinh tế vụ lợi, không thuộc về kinh tế thị trường mà thuộc nền kinh tế mang tính xã hội và tương trợ.
- Hiện nay việc tổ chức HTX chủ yếu theo đơn vị hành chính như trước kia lúc HTX là các đơn vị kinh tế tập thể. Việc tổ chức HTX theo đơn vị hành chính dẫn đến nhiều hạn chế. Muốn tổ chức HTX phải làm từ đơn giản đến phức tạp, do đấy phải bắt đầu từ một việc, làm tốt một việc sau đấy sẽ tiến lên làm nhiều việc. Hiện nay nhiều HTX làm một việc không xong mà lại muốn tổ chức ngay các HTX làm nhiều việc. Hơn nữa muốn cho việc hợp tác phát triển mạnh hơn, các HTX cùng làm một việc sẽ phải liên kết lại theo chiều dọc để mở rộng quy mô, có sức làm các việc lớn hơn. Sử dụng hiệu ứng quy mô, tức là làm các việc mà các tổ chức có quy mô lớn mới làm được. Ví dụ HTX chăn nuôi lợn muốn làm chủ được thị trường cần có các cơ sở sản xuất lợn con, chế biến thức ăn và thịt, kho lạnh để giữ thịt, trạm thú y có trang bị tốt… Chỉ có việc liên kết dọc mới có thể làm được các việc này.
Trong kinh tế thị trường, kinh nghiệm của các nước cho thấy nên tổ chức các HTX theo ngành hàng sẽ có hiệu quả nhất.
- Phải có nhiều hình thức hợp tác khác nhau, từ thấp đến cao. Hiện nay trên hơn một nửa nước chưa có hay không có HTX. Việc xây dựng HTX là một quá trình lâu dài, khó khăn, phải vừa làm vừa học. Các HTX đã chuyển đổi không hoạt động đúng với tính chất của nó. Trong quá trình xây dựng này cần có các hình thức hợp tác từ thấp đến cao để nhân dân các vùng khác nhau có thể lựa chọn hình thức mà họ coi là thích hợp nhất. Trước khi có HTX phải có các tổ hợp tác đơn giản để giúp đỡ, tương trợ nhau phát triển sản xuất như các tổ đổi công trước đây. Các tổ hợp tác cũng có khung pháp lý để có thể hoạt động. Do đấy cần phải có luật hợp tác quy định các hình thức hợp tác đa dạng chứ không chỉ có HTX là một hình thức hợp tác cao nhất.
HTX gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Không thể có định hướng xã hội mà không có HTX. Chúng tôi đề nghị Đảng và Chính phủ nên phát động một phong trào xây dựng HTX gắn liền với phong trào xây dựng dân chủ ở cơ sở và xoá đói giảm nghèo, vì HTX sẽ thúc đẩy việc thực hiện hai việc trên.
Vấn đề nông nghiệp hợp đồng
Nông dân nước ta đang phát triển nền nông nghiệp hàng hoá. Nhà nước đang muốn phát triển hình thức nông nghiệp hợp đồng để giúp nông dân giải quyết đầu ra.
Nông nghiệp hợp đồng là một thể chế được áp dụng ở các nước, nhưng không phải rộng rãi lắm. Ngay ở Hoa Kỳ là nơi thể chế này được phổ biến nhất cũng chỉ có 10% doanh nghiệp nông nghiệp, phần nhiều là doanh nghiệp lớn, tham gia… Vấn đề thể chế này sẽ dẫn đến độc quyền trong thị trường là nguyên nhân chủ yếu. Thể chế này chỉ áp dụng được với một số ngành hàng nhất định như gà công nghiệp. Gần đây thể chế này được áp dụng thử ở các nước đang phát triển, nhưng gặp nhiều khó khăn vì nông nghiệp rất rủi ro, giá cả thay đổi luôn, khó dự đoán trước.
Năm 2002, Chính phủ ra Nghị định 80/2002/QD-TTg khuyến khích việc áp dụng chế độ hợp đồng giữa các doanh nghiệp và nông dân. Kết quả không được như mong đợi vì các lý do sau:
- Giá cả thị trường thay đổi thường xuyên, lúc giá cao thì nông dân phá hợp đồng, lúc giá thấp thì doanh nghiệp phá.
- Nông nghiệp hợp đồng bao gồm nhiều hình thức khác nhau, chứ không phải chỉ có ký hợp đồng với doanh nghiệp. Có các hình thức sau: ký với doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, ký với nông trường, ký với nhiều tổ chức khác nhau, ký với một số doanh nhân hay HTX một cách không chính thức, ký với người thu mua.
- Doanh nghiệp lợi dụng độc quyền áp giá với nông dân, không có mạng lưới thu mua và không cung cấp dịch vụ cho nông dân, chia sẻ rủi ro với nông dân.
- Cả hai bên không quen với chế độ hợp đồng nên không tôn trọng hợp đồng, thiếu cơ sở pháp lý và chế tài ràng buộc. Trong hợp đồng thiếu một cơ chế chống rủi ro, chia sẻ rủi ro lúc giá thay đổi.
Biện pháp hữu hiệu nhất để khắc phục các khó khăn trên là nông dân phải tổ chức lại thành HTX hay hiệp hội để bênh vực quyền lợi cho nhau và tăng khả năng mặc cả trên thị trường.
Hiện nay ở nước ta có những nơi như ở Bắc Ninh, Hải Dương, nông dân tự tổ chức những thể chế phi hình thức, mềm dẻo, chia sẻ rủi ro với nhau hoạt động rất hữu hiệu. Các mạng lưới này do các HTX chuyên ngành, các hiệp hội hay do các doanh nhân xuất thân từ nông dân đứng ra tổ chức.











