Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 28/06/2012 21:18 (GMT+7)

Tại sao Ấn Độ lại thờ “cái ấy”?

Rất nhiều tư tưởng của Ấn Độ giáo bắt nguồn từ những bài tụng ca các thần linh từ rất sớm. Sau khi kinh Vệ Đà (Véda) được dịch thành tiếng Phạn thì nó đã trở thành của quí trong văn hoá Ấn Độ và cũng là một trong những thư tịch cổ nhất của Thế giới. Vệ Đà (Véda) có nghĩa là Tri thức. Trong các vấn đề thiên nhiên vũ trụ, câu hỏi nghi vấn mà họ hay nêu lên nhất là: Cái gì đã sinh ra và phát triển muôn loài? Cái gì thai nghén vô cùng như vậy?

Trong sự tìm tòi hăng hái và chất phác như thế, họ gặp ngay cái nguồn gốc thân thiết nhất của chính sinh mạng họ. Đó là tình dục trong tình yêu trai gái, mà họ gọi là Kama.

Nó chính là hơi ấm, là ánh sáng, là khát vọng của thân thể sống tự sinh ra, tự phát triển. Do tình dục mà mới dần dần phát triển ra vũ trụ với muôn vài cán có, mới có thể thai ghén ra những hi vọng vô cùng vô tận.

Trong “Bài ca sáng tạo”, Rigvéda nghĩa là “Ngợi ca luân lí sáng suốt”, ngừơi xưa đã hát lên những câu như sau:

“Tình dục là hạt giống đầu tiên, là sự đầu thai cho tâm linh”.

Cho nên miếu thần của Ấn Độ giáo, có khi thì thờ tượng điêu khắc của thần thánh, có khi chỉ thờ cái dương vật của thần Nam, và cái “ấy” của thần Nữ. Họ tin rằng tất cả là từ đó mà khởi thuỷ sinh ra.

Nếu đem cái sự thích thú mê cuồng không có cách nào hình dung ra được ấy ở nơi sâu thẳm của xác thịt và linh hồn, cái thứ cảm thụ vừa hỗn độn sâu kín lại vừa sắc nhọn cực đoan đến chót vót tột cùng ấy, mà biểu hiện ra bằng tư thế của hình ảnh xác thịt con người cụ thể trông thấy được, thì nếu không đồng thời biểu hiện nó cùng với sự mẫn cảm nhạy bén của nghệ thuật và lòng thành kính tôn giáo, chắc e rằng không có cách nào biểu hiện nổi.

Vì sao các nghệ nhân của vương triều Chandellas lại yêu đến say mê chủ đề này? Đời sau có rất nhiều phỏng đoán và cách nói khác nhau.

Có người nói trên tường của miếu thần chạm trổ những bức tượng điêu khắc hình nam nữ đang giao hoan là nhằm để xua đuổi tà ma, đồng thời có thể bảo vệ cho miếu thần khỏi bị sét đánh hoặc sự xâm nhập tiến công của các tai nạn khác. Có người nói, trong vương triều Chandellas do dân chúng dối lòng, sùng tín Phật giáo càng ngày càng nhiều. Rất nhiều người không chịu lấy vợ lấy chồng sinh con đẻ cái mà đều sớm lánh vào cửa Phật làm sư, làm cho số lượng nhân khẩu giảm nhanh. Các vị quân vương đành phải khổ công xuống lời từ tâm khuyến cáo: Nên biết rằng các bậc thần linh cũng tất yếu phải kết hôn với các nữ thần để thành vợ thành chồng, để được hưởng thụ cái sướng khoái của vợ chồng, mà mục đích cuối cùng của sự khoái lạc này là để kéo dài cho dòng dõi đời sau. Cho nên những bức tượng người mẹ ôm con cũng không ngừng xuất hiện lặp đi lặp lại. Đề tài “tình yêu người mẹ” cũng là một trọng điểm khác của miếu thần Khajuraho. lại có người nói, trong tư tưởng cổ xưa nhất, đã coi sự tiếp xúc xác thịt, có khi cũng là một loại phương pháp và nghi thức để dò tìm và giao hội với thần linh.

Sách Chandogya Upanishad thì hình dung ra như thế này: Khi chàng ôm nàng vào trong lòng với tình yêu sâu thẳm, thì người con trai sẽ quên hết toàn bộ thế giới. Tất cả thân xác của anh ta đều không còn tồn tại, mà cũng như thế, khi sự khớp vào nhau hoà hợp với cái toàn trí toàn năng không cái gì không làm nổi ấy, thì chúng ta sẽ tiến được vào cái giới hạn hoàn toàn quên được mình (vong ngã).

Nếu quan sát một cách tỉ mỉ, trên khuôn mặt của mấy cặp đang làm động tác yêu, chúng ta đều có thể nhìn thấy vể thoả mãn mê li đang được hưởng, cứ loé lên sáng như chớp vậy.

Thật là tài tình, tài năng biết chừng nào, trên nham thạch rắn chắc mà lại lâu dài như vậy, đã bắt chớp được cái thần tình lướt qua nhanh nhất, ngắn ngủi nhất của con người nơi trần thế ấy!

Những bức tượng điêu khắc cái “số kia” của phụ nữ trên các bức tường là tượng trưng cho linh hồn của nhân loại, đang đợi chờ, rên lên, chuẩn bị để được triều kiến Thánh thần. Các cô thường hiện ra với dáng vẻ tư thế ưỡn ẽo, rã rời hoặc chăm chú soi gương, hoặc nâng nhẹ hai bầu vú, từ sự tiếp xúc với cơ thể của chính mình để thử hô hào thức tỉnh những linh hồn đang ngủ mê chìm đắm.

Thế còn các đôi bạn tình đang ôm chặt xoắn vặn vào nhau kia thì tượng trưng cho sự “Tái tạo lại chính mình” trong tôn giáo Ấn Độ. Đó là sự tìm lại “Cái tôi mới” của chính mình được hài hoà mà hoàn chỉnh hơn.

Cho đến giữa thế kỉ 19, vào năm 1838, Khajuraho mới được thượng uý Pitơ người Anh nhân đi ăn mà phát hiện ra. Sau khi tin tức được tung lên, các học giả mới đến quan sát và ghi chép. Trong chốn rừng sâu rậm rạp ấy, chỉ còn sót lại có 22 toà miếu thần đã trải tang thương.

Bây giờ Khajuraho đã chia thành 3 quần thể miếu, thuộc 3 khu Đông, Tây và Nam, có một sân bay nhỏ và một số nhà nghỉ yên tĩnh, trang nhã. Các cửa hàng trên phố và quán cà phê hơi có chút qui mô. Cư dân cũng dần dần tăng lên đạt được 5.000 người. Toàn cảnh Khajuraho cũng giống như các thắng cảnh tham quan khác của Ấn Độ, không có gì khác biệt hẳn.

Nhưng mỗi người tham quan khi đứng trước miếu thần, nhìn cảnh quan 5.000 năm qua được bọc kín trong chốn rừng sâu rậm rạp, vẫn nảy sinh bao niềm trân trọng mến yêu.

Trong rất nhiều hình ảnh của Khajuraho, người hướng dẫn du lịch thường dừng lại trước một bức tượng đàn bà. Đó là hình người đàn bà khoả thân một nửa, đang cởi Sali của mình. Phần thân của bức tượng dường như đang nóng ấm, da thịt nóng hổi sáng trơn, từ bụng dưới trở xuống đều để hở ra. Trên đùi bên trái của cô có một vật rất kì quái. Người hướng dẫn dùng gương phản chiếu ánh nắng soi chỉ vào đó mà nói:

- Các bạn xem, con bò cạp đang bò lên đến đùi rồi. Đó là tượng trưng cho sự kích tình, biểu thị rằng người đàn bà này đang có khát vọng!

Thật là sức tưởng tượng phong phú phi thường! Dùng hình ảnh con bọ cạp để biểu hiện cho sự kích động tình dục trong thân thể đàn bà đang đợi chờ, mấp mé, run rẩy và rạo rực, là nói nỗi lòng người đàn bà đang run lên. Sau một ngàn năm, một cái chi tiết tỉ mẩm tí ti ấy đã làm cho bức tượng bộc trực, điềm nhiên. Dường như tôi có thể nghe thấy tiếng reo lên đòi hỏi trong người đàn bà ấy:

- Ôi! Đến rồi! Con bò cạp của hạnh phúc mĩ lệ đã đến rồi!

Đó mới chính là Khajuraho đích thực!


Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.